Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

HH060- Tuyệt Đẹp Nhưng Buồn



060- Tuyệt Đẹp Nhưng Buồn

(Nghe Chuyện Tình Buồn)


Dương gian để lại chuyện tình buồn
Bạt khách nghe qua những cảm thương
Cõi thế trần ai nầy quý vậy
Thiên đường thượng giới chắc gì hơn
Tình yêu giải thích làm sao được
Lý lẽ con tim quả khác thường
Khấn nguyện cầu xin giờ họ gặp
Nơi miền diễm tuyệt với nhau luôn

NhàQuê







HH059- Mai Đây



059- Mai Đây

Mai nầy cõi tạm vẫy qua
Hỏi tình yêu có phôi pha đổi màu
Nghĩ là vẫn đẹp biết bao
Ngôn từ đâu đủ nói sao tròn lời

Một ngày lời ngỏ dâng khơi
Đổi màu thay sắc cuộc đời em , tôi
Tháng năm hiu quạnh đơn côi
Bỗng dưng dịu ấm dòng đời trở trăn

Có lần lòng tự vấn rằng
Phải hôm huyền diệu nguyệt đăng tiễn chiều
Ta trao nguyên vẹn tim yêu
Không gian bỗng trỗi nhạc dìu dịu thơ

Hai dòng hòa nhập bến chờ
Sóng tình tràn xóa dấu mờ ưu tư
Vá lành từng mảnh hao hư
Căng buồm giong ruổi đâu trù gió lên

NhàQuê



HH058- Mộng Du



058- Mộng Du

Xứ người lê bước tị nhân
Quê mình bầm dập khổ thân tù đày
Nhìn lên trời rộng muốn bay
Như chim quên hết tháng ngày chuyên truân

Tháng Tư năm ấy tan quân
Nhấp nhô chen chúc thoát tràn đại dương
Như từ đâu ném xuống đường
Khởi đầu nếm nhục “vị hương” thấu trời

Mong manh hy vọng hụt vơi
Thiết thân nào dám hé lời chi đâu
Lòng người chốc bỗng đổi màu
Chập chờn dưới ánh đèn dầu âm binh

Đớn đau tận kiếp nhân sinh
Trên lưng thẹo vết chiến chinh nào tàn
Giật mình như lạc rừng hoang
Biết khi nào tỉnh đường hoàng an tâm

Mộng du tiếp bước đường trần
Một ngày tàn sức dừng chân bên đời
Chắc gì tìm lại nụ cười
Hồng quang buổi ấy Ta - Người chớm yêu

NhàQuê





HH057- Đoạn Một


057- Đoạn Một

Đèn Vũng Tàu quơ quơ vẫy tiễn
Nhạt nhòa xa mảnh đất quê hương
Biển bàng hoàng đẩy thuyền tuôn chạy
Người đớn đau lìa chốn mến thương
Sừng sững đứng Côn Lôn đón chận
Hải Đăng quét cú vọ hơn thường
Đã muôn khổ xá gì thân cõi
Dẫu sóng xô lên kiếp đoạn trường

Biển chẳng hiểu lên cơn giận dữ
Người gan lì gối sóng hiên ngang
Thiếu gì chuyện Đất Trời lầm lẫn
Hàng vạn điều sông núi ngỡ ngàng
Hạt cát nhỏ còn đau tủi phận
Chiếc thuyền manh nói hộ nhân gian
Cùng chung một giống dòng nguồn gốc
Trồng cấy chi cây đắng bạt ngàn

Người vượt biển chưa lần thủy thủ
Chiếc phao cầu gói kiếp nhân sinh
Thả căn phần lượn triền muôn khổ
Ném xác phàm chìm giữa hãi kinh
Chút quá khứ bằm từng mảnh vụn
Nhúm tương lai nát biến hài hình
Biển im lặng lắng nghe lời tỏ
Tấp cập bến bờ thấu hiển linh


NhàQuê


Thứ Hai, 29 tháng 9, 2008

HH056- Hạ Qua

056- Hạ Qua

Hai tà áo trước nay cô giáo
Mỗi buổi chuông rung nhắc nhớ về
Quê cũ trường xưa xanh lá thắm
Có vài phượng trể ngắm đê mê

Nơi em nắng Hạ có hoa không
Loài đỏ màu tim rực rỡ hồng
Hay chỉ đầy đường biên biếc tím
Lấy gì tưởng nhớ thuở thương mong

Bụi phấn bay bay giờ mất dấu
Những khung lá sách chỉ trong mơ
Chơi vơi dõi mắt lần hò hẹn
Đâu đó hình như ...vẫn ... đứng chờ

NhàQuê


HH055- Hai Tà Xưa

055- Hai Tà Xưa

Nhiều mùa Hạ phượng trôi qua
Còn thuơng dĩ vãng đã xa thuở nào

Đứng nhìn cổng khép nao nao
Lần qua chỉ kịp thầm chào trường xưa
Chuyến xe đời mãi dặm đưa
Hai tà mới đó Người Xưa mất rồi

Tàn cơn binh lửa ngút trời
Tôi đi về phía suốt đời chiêm bao
Giật mình trong mấy lớp rào
Đêm ru mạch sống tin vào cơ may

Bốn mươi năm có lẽ ngoài
Tên quen bỗng hiện tàn phai tưởng là

NhàQuê

HH054- Nẻo Về




054- Nẻo Về

Thuyền ai nhô nhấp trên dòng thẳm
Biết có hướng về một khúc sông
Neo đậu, đêm nay trăng sáng lắm
Hàn huyên chuyện thuở biệt non sông

Mai ngày chim lượn hừng hừng sớm
Mời gọi muôn hoa tỏa ngát thơm
Phơn phớt đôi bờ sương diễm ảo
Lung linh những tưởng biếc ngàn dâu
Thực mơ trở dậy từ đau thấu
Vẽ nét trùng tu thắm lại màu

NhàQuê

HH053- Trở Lại



053- Trở Lại

Bến sông dìu dập những thuyền bè
Trở lại lần nầy cảnh vắng hoe
Hay kẻ ngóng chờ sầu héo úa
Chăng người mong đợi khóc buồn nhoè
Chập chờn dáng nhỏ về qua lướt
Thinh lặng ta ngồi rũ lắng nghe
Tiếc nuối thời gian không đứng lại
Xui người hoài nhớ thuở hôn mê


NhàQuê

HH052- Hưng Phế

052- Hưng Phế

Bài Hận Đồ Bàn nghe hát qua
Bùi ngùi khôn giấu lệ tuôn sa
Tháp thiêng sương phủ nhìn rầu rĩ
Cung điện rừng chôn thấy nhạt nhòa
Như một chim muông xua mất tổ
Như ngàn thảo mộc khó đơm hoa
Bao triều hưng thịnh nay u tịch
Sánh tựa trăng trong tựa ác tà

NhàQuê

HH051- Khúc Tình Xa




Khúc tình xa


Hàng chữ nhỏ nhạt nhòa qua nước mắt
Ly cà phê ngọt đắng lịm bờ môi
Làm thế nào đừng khóc nữa anh ơi
Khi lạc bước giữa muôn trùng đêm tối

Em ao ước được như lời anh nói
Một ngày vui... dù chỉ một ngày thôi
Mắt trong vắt nụ cười không tư lự
Chiều đi về nhẹ bước ngắm mây trôi

Thơ có dệt đừng trao tình say đắm
Tim có yêu đừng xây mộng quá nhiều
Lỡ mưa giông qua đó phủ tiêu đìu
Còn có thể một ngày lay tỉnh lại...

Lòng chua xót niềm yêu vương vấn mãi
Chén thương sầu mình ta chuốc ta say
Đêm liêu trai ấp ủ một hình hài
Vừa hững sáng đã đôi bờ cách trở

Em xa anh góc trời mơ vụn vỡ
Trăng úa tàn vườn khép cửa ngàn thu
Từ anh đi bến vắng lạnh sương mù
Đêm run rẫy tiếng thở dài áo não?


TrúcGiang



051- Họa Bài KHÚC TÌNH XA

của TrúcGiang


Đêm ra biển ngoãnh nhìn rơi nước mắt
Biệt quê hương lời nghẹn giấu bờ môi
Ngọn hải đăng trên núi Cấp kia ơi
Cảm ơn nhé định hướng đường đêm tối

Mười mấy năm đọa đày không thể nói
Tự ngàn xưa vong quốc phải thế thôi
Tặc lưởi Thạch Sùng đêm nằm tư lự
Nước đó nhà đây cam phận nổi trôi

Tạm biệt trước sau một thời mê đắm
Lúc ra đi chỉ cất được ít nhiều
Có mẹ Việt Nam rách rưới tiêu đìu
Có cả mến thương cứ đêm về lại

Nghìn trùng xa giữa lòng mình luôn mãi
Một dáng hình tha thướt đến mê say
Thực ảo quyện nhau nhè nhẹ gót hài
Cố hương tôi đó đôi bờ cách trở

Triệu giấc mộng bỗng một ngày tan vỡ
Mùa Đông buồn đổ xuống trước khi Thu
Cuốn phăng phăng đi về phía mịt mù
Tuyệt vọng đớn đau gục đầu sầu não


NhàQuê

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2008

TX005- Vượt Cánh Đồng Ma


Những "ngôi trường xưa Em học"


Ðoản 5: Vượt Cánh Ðồng Ma



Thế rồi tôi cũng học hết lớp tư, từ nhà tôi đến trường Tổng, trường dạy tới lớp ba, Trường Sơ Học Xã Diệu không xa lắm đi về hướng Quận.


Trường có hai phòng học vách ngăn bằng lá nằm dọc theo tỉnh lộ 26 bên ngoài vòng rào bót có cả nhà lồng chợ. Mấy đứa bàn chót có thể thò tay qua chỗ rách khều ghẹo với mấy đứa lớp bên kia, có lần tôi bị méc và bị thầy đòn vì trò nghịch ngợm đó: Tôi lọt bẫy vì chúng quấy tôi trước, đến khi tôi thò qua thì chúng hè nhau giữ chặt tay tôi lại.

Trường nào cũng vậy, vẫn theo phong tục con gái ngồi hết mấy bàn đầu, vẫn theo truyền thống ngoại giao khép kín giữa trai gái cùng lớp, lằn ranh phân biệt ấy chưa bên nào vi phạm, điểm thấy rõ nhất là phía gái đã bắt đầu mang theo và ăn lén xoài ổi, kẹo bòn bon trong lớp mà không biết hối lộ bên trai chút nào, trả lễ chúng tôi cũng chẳng nương tay nên thỉnh thoảng "giới thiệu" các cô nàng tình nguyện trả bài lúc mấy trự chưa kịp nuốt hết, lắc lư! Họ gọi chúng tôi là Ðồ Quỷ từ đó.

Trong lớp tôi có nhiều đứa là con các viên chức địa phương, họ thường chểnh mảng bài vở, nhưng thầy cũng "không nỡ" nặng tay. Bọn trai chúng tôi tiến tới giai đoạn cởi mở rủ bạn bè về nhà ăn cơm có gì ăn nấy, xong tắm ao tắm đìa, trèo cây hái trái...Ngôi trường qui tụ đủ học sinh các xã chung quanh, do nền ngoại giao phát triển đó nên chúng tôi thông thuộc mọi lối đi ngang đi tắt trong vùng.

Chỉ trong gần một năm lớp ba, chúng tôi học tới ba thầy khác nhau vì lần lượt mấy thầy bị gọi đi lính, sau nầy đọ lại với lịch sử đó là những năm chiến tranh Việt Pháp đi vào giai đoạn kết thúc (1953-1954). Do vô tư của tuổi trẻ chúng tôi chưa có mảy may nào quan tâm tới thời cuộc, vẫn thả dòng vui chơi học hành theo ngày tháng đi qua.

Ðã xong hai kỳ thi xét lên lớp , một biến cố xảy ra cắt ngang nếp sống đều đặn thường nhật của tôi: Anh tôi trốn lính, mấy ngày sau đó anh đi tu lánh nạn. Cái lão Cai Tổng hay dẫn đám lâu la đốt nhà những gia đình có người đào ngũ, có khi bắn giết cả nhà nếu người trốn mang theo vũ khí hay gây thiệt hại; Gia đình Ba Má Anh Chị Em tôi tức tốc rời bỏ ngôi nhà êm ấm có giàn bầu tự tay tôi trồng chăm bón đang trỉu quả, trốn đến cuối làng gần rừng làm chòi sống tạm gần như màn trời chiếu đất mấy ngày đầu; Khổ nào cho xiết!

Mươi ngày sau tình hình lắng dịu, Ba xin Bác tôi một nền nhà cho gia đình trú ngụ vẫn cuối làng, xa nơi nhà chưa dám trở về của tôi. Má tôi lại dẫn tôi qua xã khác xin học lớp ba với người bác họ: Thầy Tô Văn On.

Mỗi sáng tôi đi ngược hướng mặt trời mọc băng qua cánh đồng rộng đến trường Vĩnh Hòa có cây dúi cao trước cửa lớp, nơi ấy tôi có nhiều bạn mới chia phe bắn u du giữa hai buổi học sáng chiều, lần cuối cùng thằng Tín thọ tiển nơi mắt và trò chiến tranh nầy đi vào dĩ vãng chúng tôi. Mốc thời gian được nhắc lại cả Niêm và tôi nhận ra nhau có thời học chung lớp, tôi ở đó chỉ có mấy tuần lễ cuối niên học.

Tan học buổi chiều tôi lại đi ngược hướng mặt trời băng qua cánh đồng ban sáng nổi tiếng ma nhất là ngang đám cây chùm quân, nơi nghe đồn có người bị ma dấu cho ăn đất sét, qua đó đi càng lẹ tôi nghe hình như có người đang đuổi theo.


Thời gian cuối năm lớp ba ấy tôi hai lượt đi về, ánh nắng sau lưng, tôi đuổi theo bóng của tôi đang đỗ dài phía trước như đuổi theo tương lai một cách vất vả nhưng không kém phần bền chí. Con đường tôi qua không đoạn nào bằng phẳng cả!


NhàQuê June 24, 2005

TX004- Cánh Chim Bay


Những "ngôi trường xưa Em học"


Ðoản 4: Cánh Chim Bay


Như sự giã từ trong âm thầm trước chuyến đi xa, tôi làm người say ghé những chỗ thân quen nói miên man chuyện trên trời dưới đất, mưa nắng, mùa màng...tất cả những thứ ấy và nhiều hơn nữa đã đóng gói vào một góc hồn tôi trong số hành lý không thể nào đong đếm được, có cái cùng có thứ chỉ riêng: Chúng là Quê Hương bây giờ tôi ngàn dặm.

Tôi đi lại đoạn tỉnh lộ 26, có cầu Bà Hiền bắt ngang con rạch tưới ngọt cánh đồng chỉ có vụ mùa. Những tháng nát rạ chờ mùa vụ mới, đám trẻ chúng tôi và xóm bên kia dàn trận đánh nhau chọi bùn chí chóe hai bên bờ rạch, ngay cả đứa ốm yếu cũng góp phần xắn bùn tiếp tế hay giữ quần áo, cập vở cho các tráng sĩ ra trận được an tâm.

Trận đánh lần sau mãnh liệt hơn lần trước, hai bên tìm cách qua sông chọc thủng phòng tuyến của nhau, bắt tù binh trát bùn, trấn nước...Những con người dũng cảm ngày nào đã trôi theo dòng thời gian và hai bờ cuộc chiến có thật, cuộc chiến kết thúc bi thảm không như...

Từ chỗ trống trải nhìn xuyên ruộng rẫy thấy được bến Ðường Tắt, nơi đó cùng các bạn trai khác, tôi đã phụ vác cây rừng vừa sức mình về làm vách cho trường mới cất chưa quá hai trăm thước gần nhà tôi.

Tôi nhớ hoài bữa cơm canh mướp tép rang ngon chi lạ ở nhà thầy sau buổi phụ vác cây ấy. Thầy vai em trong họ hàng, nhưng không vì thế mà được thiên vị.



Lớp tư thuở đó có vài bạn học chung vai cô chú tôi, cũng có mấy bạn vài năm sau có vợ lấy chồng, mấy bạn gái ngồi các bàn trước, lưng họ che chắn làm tôi vất vả phải đứng lên đọc chữ trên bảng rồi ngồi xuống chép, khi họ dựa vào bàn sau cũng làm chúng tôi khốn đốn, nét chữ răng cưa.

Gần cuối năm thầy bỏ đi kháng chiến thỉnh thoảng thầy ghé nhà thăm Ba Má và hỏi thăm sự học hành của tôi. Lâu sau trong trận đánh nào đó thầy tôi, viên Huyện Ðội Trưởng đã hy sinh cho lý tưởng của mình: Vĩnh biệt thầy Nguyễn Tấn Hồng!

Tôi lại hằng ngày qua cây cầu ván không lan can trên tỉnh lộ đến học tiếp ở trường "Nhà Việc Cháy". Trường gần công sở xã, nơi người dân thiếu thuế, thiếu xâu bị bắt "đóng trăn". Cái Nhà Việc được cất lại trên nền công sở cũ đã bị thiêu hủy thời Nhật Ðảo Chánh. Gần như những bạn trường ấy không nhớ gì khi tôi nhắc có lần tôi đã học chung với họ vì tôi đến đó vài tháng cuối niên khóa. Không biết tôi có được kể là cựu học sinh trường sơ học Tân Thủy không nhỉ? Xin cho tôi với chứ! .......

Vào mùa vụ, sau buổi học tôi theo Ba Má sang bên kia rạch, đi phụ làm cỏ, bè dăm mạ, ôm đất đắp bờ ...Chiều nào bầy cò trắng cũng bay khoan thai về hướng rừng xa, chốc sau đám le le rợp trời diễn tập đội hình khi bay chung khi tách riêng đổi hướng rồi lại nhập vào. Không nhớ ngày đó tôi nghĩ gì khi ngắm nhìn chúng mà giờ nầy tôi là cánh chim lìa đàn bay đi. ./.


NhàQuê June 16, 2005





Theo Cánh Chim Bay

Có một dòng sông chảy tận đây
Trong tôi tưởng nhớ suốt từng ngày
Ra đi vẫy biệt lòng đau cắt
Gởi lại âm thầm dạ xát xay
Xứ lạ luôn dành nguyên góc nhỏ
Quê xa vẫn cất trọn tim nầy
Nghe ai nhắc đến tên dưng bỗng
Muốn được thành chim chớp cánh bay

Bay qua chốn cũ xóm nhà tôi
Nén những buâng khuâng cố tưởng hồi
Cổ Thụ vươn cao giờ hạ đốn
Đình xưa bóng rợp trước đùa chơi
Trông theo dáng nhỏ vừa tan học
Thấy lại y nguyên đủ khoảng đời
Ước được sau cùng nương cánh giạt
Lần nhìn trước lúc biệt xa khơi

NhàQuê





Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2008

TX003- Qua Đồi Cát Nóng

Những "ngôi trường xưa Em học"

Đoản 3: Qua Ðồi Cát Nóng



Vào mùa nắng, các làng ven biển quê tôi có thể nói gọn không ai muốn bước chân ra đường. Sức nóng làm đôi mắt lúc nào cũng chực khép vào giấc ngủ nặng nề nhơm nhớp mồ hôi đang xô tới; Tôi thằng bé đi học về dưới từng hạt nắng bốc lửa ấy!


Anh Mười và anh Út mặc áo dài trắng khăn đóng đen dạy học công quả cho chùa, chúng tôi học trong ngôi trường lợp lá mới cất theo chiều dọc con đường đi, mấy cây cột còn mùi cây rừng chưa khô hẳn, chưa tróc hết vỏ.

Trường mới của tôi bên trong rào của thánh thất Cao Ðài Thiên Tiên, các cơ sở phụ thuộc của chùa kể cả phòng thuốc nam làm thành các dãy tách biệt sau ngôi chánh điện nguy nga mái ngói, có hai tháp cao phía trước hình dáng quen thuộc như những chùa Cao Ðài trông thấy đó đây, chúng tôi thường gọi hai tháp ấy là lầu chuông lầu trống.

Các loại cây, rễ, lá có thể làm thuốc thường được bọn học trò chúng tôi mang tới hiến, góp phần công quả và có lúc chúng tôi bỏ lớp vụt ra phụ khiên, kéo các đệm, nia thuốc đang phơi khi cơn mưa đột nhiên ập nhanh đến.

Trường gần ranh giới làng tôi với làng kế cận: Thuộc làng bên. Tôi lại có thêm bạn mới, nhiều đứa sau nầy cùng tôi ra trường Tổng, nhưng trong những ngày nầy chúng không về cùng đường với tôi, vì tôi từ làng khác tới học nhờ. Sau mấy bài thử sức, tôi theo các bạn mới không vất vả gì.

Thế nhưng đến khi thầy cho về là lúc trí óc tôi phải hoạt động căng thẳng, nghĩ cách qua đồi, qua nỗng cát nóng hừng hực, con đường duy nhất phải vượt qua, không cách nào khác. Trong lúc nỗng cát dường như thu gom hết sức nóng từ mặt trời lên đến giờ, đem chúng trải dọc lối về của tôi.

Tôi nhẩm tính từ đám cỏ khô nầy đến đám gần nhất xem có thể chạy nổi một mạch không, nhẩm tính những đám cỏ nào còn sót lại chưa gãy rụm mấy ngày trước, lúc tôi nhào lên đứng bằng một bàn chân, bàn chân kia ghé tạm lên trên chờ đổi thế cho nhau, đến khi cả hai nguội để có thể chạy nhanh qua “đoạn đường chiến binh” kế tiếp.

Ðường đi dọc lưng đồi, hai bên lối đi cây xương rồng gai nhọn tua tủa còn sống nổi, nhưng xem ra chúng cũng bệ rạc, xen kẽ vài đám gò mã, nơi đó không có loại cây có khía nhiều gai ấy, đám mã còn chút ít cỏ khô cho chỗ đứng tạm.

Xa dưới triền đồi, mấy chòm tre gai mốc thít như ngủ gục, như trôi trên làn sức nóng chập chờn. Mặt trời cao vút bên trên mà sao sức nóng phả khí thế đáng sợ!

Phải chạy năm hơi mới tới cây keo già không còn cành nào phía đường đi, tàn lá đều nghiêng về một bên phủ kín cái giếng lạn chứa tạp nham đủ loại bị gió cuốn tới. Ðứng trên rễ cây đảo mắt xem chừng trên ấy nghe nói thỉnh thoảng có bà mẹ xỏa tóc nằm võng ru con.

Con tắc kè trong bọng cây không biết bao lớn, cất tiếng đến giật mình, tùng dấu hù dọa thằng bé, thúc nó bỏ chạy tiếp, vượt qua đám dúi tháng trước còn rậm rạp, giờ xơ xác, bên trong nhiều lúc có ma chọi đất ra, người gan dạ dám lận theo mấy miếng gạch vụn chọi lại thì nghe tiếng ma bỏ chạy.

Cuối cùng tôi cũng nghĩ ra được miếng mo cau hay “thịnh soạn” hơn là một hộp giấy dày làm cứu tinh đem theo, khi không còn bụi cỏ khô nào.


Cơn mưa đầu mùa ập xuống, cũng chỉ làm đồi nỗng cát phủ được lớp da ướt bốc khói râm rức, bên dưới lớp da ấy khi vít thử chân, lớp cát khô quánh vẫn đang nằm thách thức.

Ngôi trường thứ hai tôi đấy! Không có con chữ, phép tính nào mà tôi không đổi bằng gót chân mỗi ngày một chai dày thêm.


NhàQuê



Con Lộ Đất

Em kể lại tôi nghe
Con đường xưa bây giờ tráng nhựa
Vẫn vắt ngang qua mấy ấp quê mình
Những cây cao cây còn cây đà đốn
Nhìn lạ làm sao!

Trong ký ức một mình tưởng lại
Con đường làng cát nóng vuột da
Tôi thằng bé chân trần đi học
Băng qua nỗng cao khổ ơi là
Chạy từ đoạn một

Đầu trên kia có miễu Bà Bèo
Phía nọ giáp làng bên Giồng Nần, Đục Mộ
Người ở xa biết làm sao nhớ
Riêng tôi quen như từng ngón tay mình
Chia phe phục kích

Đi học sớm chun vô bụi núp
Đợi tụi nó ngang nhảy ra hù
Mới vô trường đà trèo lên một bậc
Sách chẳng nói nhất quỷ nhì ma đó ư
Đường thêm ma nữa

Con ma giờ đây nhớ thương đường cũ
Đêm chiêm bao đi lại bao lần
Vẫn y nguyền từng chùm cây dại
Nhàn hạ trổ hoa đâu chờ Xuân

Tôi thằng bé chân trần
Ước bỗng làm hạt cát!!

NhàQuê




Thứ Ba, 23 tháng 9, 2008

TX002- Đình Làng

Những"ngôi trường xưa Em học"


Ðoản 2: Ðình Làng


Hai đình, bốn miễu và một lăng của làng tôi năm nào cũng có cúng kỳ yên, vía hay tương tự, những năm đặc biệt trúng mùa bao giờ cũng có rước hát bội về ít nhất là ba đêm diễn, đoàn hát xong nơi nầy dọn tiếp qua nơi khác; Ðó là dịp hẹn hò của trai gái làng quê tôi đang mùa đồng khô, trăng tỏ, tương đối rảnh rỗi trước mùa vụ mới.




Từ nhà tôi qua khỏi Cổ Thụ không xa, ngôi đình Tân Hòa mái ngói âm dương, cổng dáng hình lăng miếu, hai cây dương hai bên cao không đều nhau có lẽ một cây được trồng lại sau. Đình tọa lạc trên phần đất độ hơn hai mẫu tây, có mấy cây sao thẳng hàng còn lại là vú sữa, gia đình Ông Từ chăm sóc quét dọn đình cũng được dành cho một phần vừa ở, vừa trồng trầu. Không ai gọi tên đình Tân Hòa, thậm chí có người không biết; Ðó là trường vỡ lòng đầu đời của tôi: Ðình làng Tân Thủy.

Một buổi sáng tôi mặc quần áo mới chẳng khác nào ngày tết, ôm cập đệm cũng mới màu chiếu trơn, có viền bìa vải bông cho đừng vuột chỉ may, trong đó có nhiều thứ Ba Má tôi mua cho và dặn tên từng món, có vài món hơi lạ tôi chưa biết dùng để làm gì; Tuy nhiên tôi cũng trân trọng xếp chúng gọn gàng trong ấy. Ngày hôm trước Má tôi nấu chè cúng vái cầu cho tôi học sáng láng, ăn chè xong tôi kiểm lại đồ đạc mấy lần sợ có ai mở ra coi thử làm lệch thứ tự theo ý tôi, tay kia tôi xách bình mực nâu đi theo Má: Tôi đi học không khóc như những đứa khác, trước khi đi tôi sợ Má quẹt lọ lên trán xin phép Ông Táo như những lần cũng đi hướng ấy về quê ngoại đám giỗ. Không, lần nầy Má tha!

Mấy đứa khác gặp trên đường không có vẻ lo âu như tôi, chúng đi một mình mà còn nhìn tôi chế nhạo, học trò mới: dốt!

Má nói chuyện với chú sáu Niên gì đó, Chú ghi ghi chép chép, tôi đứng bên cạnh có khi tôi nhìn xuống quyển sổ Chú ghi, có lúc tôi nhìn đám đông xếp ngồi từng nhúm đang xù xì to nhỏ nhau, Chú ngưng viết nhịp thước mấy lần lên bàn của Chú, tụi nó nín khe trở lại. Mọi việc kết thúc khi Má dặn: Nó làm biếng Chú cứ việc uýnh! Mấy đứa dưới ra hiệu roi mây nẹt đít tôi thấy rõ ràng mấy giây trước đây khi tôi nhìn hướng chúng, làm tôi cũng hơi chùng xuống đôi chút.

Ðến khi Chú chỉ chỗ ngồi cho tôi, tụi nó lấn còn có chút xíu, tôi đặt đít vào như phải trướng lấn lại cả hai phía: lưỡng đầu thọ địch.
Trên mặt bàn hai đứa hai bên khuỳnh tay, cùi chỏ gần đụng nhau chừa chỗ nghiêng nghiêng vừa đủ tôi đặt bình mực, cập tôi chỉ được ghé chút, còn phần dư phải tựa trên đầu gối.


Suốt buổi ấy sư phụ tôi chưa truyền phép mầu gì, quyển vở còn trắng tinh, bụng trống như lúc ra đi không chữ nào trong đó.
Lúc cho về tôi khoanh tay "Thưa thầy em về" như mọi đứa khác, từ nay tôi không gọi thầy tôi là chú nữa.


Má tôi qua khỏi Cổ thụ đôi chút đón tôi vinh qui, vì từ đoạn đó tới nhà tôi không có đứa nào cùng đường, chúng đã tẽ vào xóm trước khi.
Em tôi bỏ trò chơi bắn cu li một mình vừa một lúc làm hai vai, hai đối thủ. Em chạy lại chạm nhẹ tay tôi: Có gì hôn? Ý em tôi hỏi có bị đòn hay biến cố trọng đại nào không, tôi cười lắc đầu và nó an tâm hiểu rằng đi học là chuyện dễ dàng. Tôi giấu em cuộc chiến đấu từ cả hai cánh vừa qua của tôi.

Hai ông lấn tôi từ bữa sau trở đi dễ thương lạ, hai ổng nhường chỗ cho tôi thoái mái: Hai ông làm thầy kèm tôi; Làm thầy thì phải hy sinh chứ! Người lớn mà! Ðâu lại giành chỗ với trò hay ít ra là đàn em.
Thầy phóng mấy chữ cái trên tập bằng viết chì rồi hai thầy "lấn chỗ" chỉ tay vào chữ đọc trước tôi đọc theo kèm theo lời hăm dọa: Tụi tao đọc ba lần mà không đọc lại được như tụi tao hồi trước là đuổi học.
Tôi hiểu hai thầy xưa kia thông minh rất mực và nay có quyền tâu lại Thầy đuổi tôi.


May phước sau lần thứ hai là tôi đi suông. Kế tiếp tôi còn được chừa chỗ rộng hơn, không bị thình lình đụng tay khi tôi dùng viết mực đồ theo lằn chì mấy chữ cái thầy phóng.


Vần xuôi: Bê a ba, bê á bá ...em mờ a ma, em mờ á má ... tôi thanh toán gọn mấy ngày kế tiếp và thêm ít ngày nữa tôi xong phần vần xuôi, phải từ giã hai thầy "lấn" để qua nhóm vần ngược ngồi góc bên kia. Hai thầy cũng tự hào dạy giỏi.



Tôi không nhớ rõ tôi học ở đó bao lâu nhưng tôi biết rằng tôi đã tiến qua giai đoạn tự chép theo bài thầy biên trên bảng vuông vức màu xám treo trên tường và làm toán cộng trừ không số giữ.


Thời gian đó tôi lần lượt được chuyển học chung nhiều nhóm khác nhau ngồi riêng góc tùy theo trình độ tôi tiến lên được, thuở ấy chúng tôi gọi là được lên lớp.

Thầy tôi bị ruồng bắt lính trong một đêm nào, không còn ai thay thế dạy cái lớp học đủ mọi trình độ đó, một buổi sáng u buồn chúng tôi ra về, giã từ cái nhà đãi ăn của ngôi đình làng dùng làm trường lớp đầu đời của tôi và có lẽ cũng của các bạn cùng thuở.


Ngôi trường đình có cánh đồng rộng bên kia đường trước cổng chúng tôi cho diều hát vi vu mùa khô, trong lớp chúng tôi ngồi lắng nghe đoán biết được nó đang lên cao hay lượn xuống, tàn cây vú sữa cho chúng tôi bóng mát nô đùa mỗi lúc được ra chơi.
Tôi thấy mấy đứa con gái thường nhảy dây, đánh thẻ, ít khi thuộc bài lại khóc nhiều hơn hết trong buổi sáng lạc thầy đó.


Ít lâu sau Thầy tôi trốn về được. Ngang qua nhà, thấy Má tôi, Thầy nói vọng vào: Tui mới về nè chị Tư !
Má tôi dừng Thầy lại nói chuyện mấy câu, tôi chạy ra mừng ngỡ vài ngày nữa thầy sẽ dạy lại.


Không, thầy tôi vĩnh viễn bỏ thiên chức khai hoang. Vĩnh biệt Thầy!


NhàQuê May 21,2005


user posted image

Đình Làng, Ngôi Trường Đầu Đời

Mái vẫn rêu phong trước sau êm vắng
Uy nghi ngầm phảng phất nét hiển linh
Sắc vua phong thuở trước cẩn cung nghinh
Ơn đức bổn Thần tiếp nhau truyền rạng

Nhớ Má cúng cầu mong tôi sáng láng
Trước hôm nao dẫn đến gặp thầy xưa
Đứng khoanh tay, lắng tiếng dưới hăm đưa
Nhìn khúc roi xơ, lòng mình tự vấn

Rồi chút nữa đây “mấy ông” xúm lấn
Ngơ ngác trùng vây lọt thõm giữa lòng
Xóm dưới đầu trên có vẻ đợi trông
Chờ thầy xếp cho tôi cùng chung dãy

Tàng lá xum xuê cánh tay rộng trải
Bóng mát rợp che trong ngõ lối ngoài
Nhớ buổi vỡ lòng… giờ tít chân mây
Mất dấu Trường xưa, Đình ngùi thế sự

NhàQuê



Bên Kia Đình Làng

Hai nhành rẽ phướng giữa tầng bay
Uống gió no đầy túy lúy say
Vụt thoắt lên cao tìm hướng núi
Vòng vèo lượn xuống bỡn vòm cây
Hồ pha giấy phất diều đâu sợ
Nhợ mảnh sườn oằn sáo lắc lay
Nhắc đến nơi xưa vui thú ấy
Trường ĐÌNH chạnh nhớ khóe mi cay

NhàQuê


TX001- Cổ Thụ








Những "ngôi trường xưa Em học"


Ðoản 1: Cổ Thụ





Trừ những khi mây xuống thả vòi là đà thấp hơn ngọn cây, báo hiệu cơn mưa ập đến. Còn không, từ bên nầy của cánh đồng rộng tôi trông thấy làng Tân Thủy của tôi mờ mờ màu xanh núi, giăng ngang tựa tranh vẽ, bầu trời nhạt hơn phía sau.





Trên con đường dẫn từ quận lỵ Ba Tri về hướng Ðông băng qua cánh đồng ấy, tôi về trể hơn các bạn khác mỗi ngày: Tôi đi bộ! Khi bắt đầu vượt đoạn đường tôi luôn nhìn Cổ Thụ làng tôi vấn kế, Cổ Thụ nhìn thằng bé đi học về mỉm cười lúc trong lòng tôi vẫn còn rộn rã lời khen của thầy âm vang chưa tan hết. Những lúc tôi đi đầu cúi thấp vô hồn chắc Cổ Thụ cũng rưng rưng.




Có khi tôi phải đứng chờ có người đi cùng mới dám vượt qua khu trâm bầu của chòm Ðìa Ðôi gần khoảng giữa, đám trâu đen trâu cò đang cằn từng cọng cỏ gần đó cho biết rằng mấy đứa chăn lẩn khuất đâu đấy, sẵn sàng nhảy ra bắt nạt tôi: Thằng bé cũng đã giữ trâu cho người chú không con trai của mình, tựa chúng, nhưng tôi không hung hãn như. Dù không nhìn thấy trâu, qua chòm Ðìa Ðôi tôi vẫn chạy hết tộc lực sau đó vừa đi vừa thở như người tập thể dục bất đắc dĩ; Những lần như vậy Cổ Thụ nhìn tôi dáng có chút đăm chiêu, nhưng cũng có vẻ ngầm khuyến khích.




Cổ Thụ đứng ven con lộ đất dẫn đến cuối làng, gần đoạn khởi hành hơn. Phải nói rằng con lộ đất đi dưới chân Cổ Thụ mới đúng, vì anh chàng cát bủn nầy né rẽ đi hướng khác mấy lần trong thời loạn lạc, nhường chỗ cho địa đạo, giao thông hào; Nhà tôi không xa nơi ấy.




Không ai biết Cổ Thụ bao nhiêu tuổi, Ba Má tôi nói hồi đó giờ vẫn vậy, không lớn thêm cũng không có dấu hiệu gì già cỗi. Có thể từ xa xưa lắm những hạt mầm bị sóng triều xô giạt vào cồn cát vừa nhô lên khỏi mặt biển đôi chút, bám được rễ bắt đầu sự sống: Cuối cùng chỉ một cây non thoát được các đợt tất công liên tiếp của sóng triều.




Dấu chỉ bên dưới lớp đất nói rằng làng tôi là cồn cát càng ngày càng lấn biển ra xa. Khu rừng nước mặn mọc thêm dàn hàng ngang tiến về hướng Ðông lần sau khác lần thấy trước, củng cố thêm trong tôi lịch sử hình thành con giồng tên gọi Giồng Bông nơi tôi được sinh ra. Cây xanh mơn mởn tín hiệu hứa hẹn về vùng đất tươi tốt, hấp dẫn nhóm người đầu tiên đến đây dựng liều cắm trại định cư ... Theo Chúa Nguyễn "Nam Tiến" bằng cách nầy cách khác Tổ Tiên tôi xua dần lớp cư dân thời tiên khởi lập làng...Tôi, hậu duệ nhóm người lấn chiếm dựng nên quê tôi hiện giờ: Tôi nghĩ vậy!




Ðứng vươn cao, Cổ Thụ nhìn bao hưng phế đổi dời đời nầy qua đời khác: Ði xa Cổ Thụ đứng trông theo đến khi không còn chấm nhỏ, vui mừng gần như nhón gót cao thêm cho rõ, coi có đúng kẻ trở về đấy không. Cổ Thụ hát reo bốn mùa gió lộng, ủ rũ u buồn vĩnh biệt mỗi lần đám tang đi qua dưới chân Người, lo âu cho kẻ ra khơi sinh nhai giạt trôi không trở lại... Từng mắt lá Cổ Thụ như nghe, như thấy bao khắp và xúc cảm với từng hơi thở nhẹ của quê tôi, Cổ Thụ chắc cũng vui mừng mùa bội thu, rầu rầu những năm sâu rầy phá hoại.




Gần giáp Tết, Cổ Thụ nhìn gió chướng từng cơn lọc qua khu rừng nước mặn, nhìn từng đợt sóng bổ ghềnh hùng hổ ập vào rồi lại kéo ra như muốn xô ngả khu rừng chông chênh đang cố ráng sức chống chọi, chơi vơi chao đảo như người chỉ còn có một chân phải trụ lưng vào cồn cát phía sau phụ lực. Có lẽ Cổ Thụ cũng nhìn thấy thằng bé trùm kín chăn nhai trộm bánh phồng sống mới phơi một nắng, bị Má bắt gặp lôi ra rửa miệng giữ răng. Mật chiếc bánh nếp trôi ngọt ngào qua cổ cùng âm vang tiếng sóng bổ ghềnh như rượt đuổi nhau luồn dưới lòng đất, không những qua tai mà ngấm sâu đưa tôi vào giấc ngủ nhẹ nhàng không mộng mị: Tuổi thơ tôi đấy!




Rồi một ngày kia, đao phủ thủ nghiện rượu về từ hướng Bắc chém nhát đầu tượng trưng làm hồn tôi, người vốn phải câm: Ðau rướm! Làng tôi nghèo đến độ cần gổ để đóng vài chiếc bàn ghế học trò cho trẻ em thế sao! Không! Cổ Thụ là cây củ chi, mã tiền,... độc dược, vô dụng từ nhánh tới lá, thân cũng nguy cơ ngộ độc. Sao lại mang ra làm thế chứ!




Sau mấy ngày đau đớn Cổ Thụ gục ngả: Ðám chim chóc đủ màu đủ loại sống chung bao đời hốt hoảng vội vàng rời tổ, đậu nhờ những cây lân cận ngơ ngác đứng nhìn lại, rồi như đồng loạt kêu lên ai oán cùng lúc Cổ Thụ đổ nhào, âm thanh như một chấn động khác biệt chưa lần nào nghe thấy. Ðám chim chưa muốn tản mác bay đi, đám chim mỗi lần đi qua tôi dừng lại nhìn lên, không còn sợ trên ấy có người khuất mặt như ngày xưa còn nhỏ chẳng khi nào.




Từ đó làng tôi không còn như ca dao có lũy tre xanh, có cây cổ thụ. Cổ Thụ làng tôi cao nhất trong vùng, cao hơn bất kỳ nơi nào tôi đã đi qua. Không còn dấu mốc nào để dễ dàng nhận biết từ xa, rằng gần đó có ngôi nhà lợp lá: Ba Má Anh Chị Em tôi, cái chùm hạnh phúc ấy quây quần bên nhau một thời.




Làm làn khói thoát ra từ lò hỏa thiêu, tôi hòa tan vào mây phiêu du về bên ấy, biết tôi có còn nhận ra được chốn xưa không. Cổ Thụ còn đâu để cho tôi xin mây một lần xà xuống thấp. Tôi chẳng có chút nào so được con chim nhỏ nhất ngơ ngác rời tổ ngày nọ.

NhàQuê, May 19, 2005


Thứ Hai, 22 tháng 9, 2008

TEU007- Anh Đi Chiến Dịch






TEU007- Anh Đi Chiến Dịch....



Lương khô gạo sấy cứ lưng vơi
Thúc hối hăng lên chớ có lơi
Bám miết vô sâu Ta chới với
Vờn vờn phía mép Họ lờn hơi
Từ trên ngó xuống kêu chờ đợi
Dưới thấp dòm vô thấy rối bời
"Cuộc Tiệc" còn lâu người thấm tới
Xong nầy tiếp khác khó khi ngơi

NhàQuê



TEU006- Cận Chiến






TEU006- Cận Chiến

Nắm vững tình hình địch lẩn ta
Mục tiêu tuần tự một, hai, ba…
Đông dương Tây kích vô phương hứng
Tả đột hữu xông xính dính la
Trận địa đột nhiên bừng khí thế
Chiến trường linh hoạt tiến theo đà
Dưới cơ đòn thấm buông xuôi xị
Ai mạnh nhào lên xáp lá cà


Xáp lá cà do chẳng đặng đừng
“Bạt Co” chiêu hiểm đem ra dùng
Kỳ phùng địch thủ dồn toàn lực
Đồng sức đồng tài trí tập trung
Tung hứng lẹ nhanh theo miếng thế
Tới lui tấn thối cậy hăng sung
Dồi dào tiềm lực năng thao dượt
Chễnh mãng đành cam chịu rục tùng

NhàQuê


TEU005- Cây Súng Sáu






TEU005- Cây Súng Sáu

Trật dưới thắt lưng cây súng ngắn
Thân trai chinh chiến giữ dành xài
Hành quân lâu chóng mang mài miệt
Xung trận nhỏ to giúp thị oai
Khi đã rút ra thì phải nẽ
Cất vô rồi sẽ tiếc hoài hoài
Sáu viên một gắp đâu là ít
Mà chẳng dịp nào miết thả tay

Tay to mặt bự ưa đồ nhỏ
Đặc biệt kiểu riêng thứ mới toanh
Bảo vệ an ninh hàng lớp lớp
Tiền hô hậu ủng đặc loanh quanh
Bia trương mát mắt phơ trầy trật
Ngó súng lắc đầu tiếc cánh canh
Cùi Bắp Đơ Dèm cơm cá mối
Chứ cho lệnh quạt dọng ành ành

NhàQuê


TEU004- Ra Trận






TEU004- Ra Trận

Đụng độ lần đầu sờ sợ teo
Vờn qua vờn lại lên như trèo
Trên đồi đếm rõ chừng đâu cặp
Dưới suối kể như nhúm bọt bèo
Thế yếu quyết lòng đeo sát rạt
Thượng phong tấp riết hết kỳ kèo
Trận tàn so nhẫm hầu kinh nghiệm
Phần thắng về ai đạt đỉnh đèo

Đèo dốc lũng sâu quyết chẳng màng
Hang hùm cỏ vướng chớ hề than
Chọi đêm rộng hẹp tùy quân trải
Ngày đụng nhanh mau kế cậy quan
Đánh mạnh ắt gì đem chiến thắng
Rút mau chưa hẳn được an toàn
Mưu sâu chước khéo cùng thi thố
Tám lạng nửa cân mặc sức càn

NhàQuê



TEU003- Tác Xạ Khẩn Cấp






TEU003- Tác Xạ Khẩn Cấp

Đang đi kêu tấp đại vô lề
Trống trải thế nầy thiệt khổ ghê
Phía họ thấy ra, ôi rắc rối
Đàng mình lúi húi, ối nhiêu khê
Nhìn quanh Mắc Cở vô phương kể
Ngó quấc Trăm Bầu ngán ẩm ê
Đạn phụt khỏi nòng lao vút vút
Rằng tuy cấp bách vẫn đề huề

Đề huề thu vén Thế Lên Đường
Xóa dấu nơi đây bải chiến trường
Trinh Nữ trở mình tươi tắn lại
Tơ Hồng vàng óng khiến vương vương
Bảo trì súng ống lau khô sạch
Đạn dược giữ gìn chặc vỏ rương
Cứu ứng liên hoàn đâu quản ngại:
Có dù bờ bụi chút phong sương

NhàQuê


TEU002- Lệnh Tác Xạ






TEU002- Lệnh Tác Xạ

Chưa ăn mệt ngất lệnh banh càng
Phận dưới đâu nào dám thở than
Cứ tống đều chi toàn nạp bảy
Thụt hoài nóng quá nhão nòng gan
Lùng bùng, xệu xạo, lơi đâu được
Kiểu cọ, hố lùi, phải sẳn sàng
Quá sướng, trận tàn ngưng tác xạ
Đụng hoài sắt thép có ngày tan

Tan được đợt ngày tới pháo đêm
Mấy đèn cọc dấu đủ đầy Pin
Kiểm tra em út thi hành khớp
Báo cáo xếp quan mọi huống tình
Soi sáng luôn luôn cần chuẩn bị
Vận hành tự động sẳn kho mình
Trăng thanh gió mát ai vui thú
Pháo thủ rêm người chỉ lặng thinh

NhàQuê


TEU001- Pháo Thủ






TEU001- Pháo Thủ

Phép nước chiến chinh phải phục tòng
Lịnh truyền giao giữ súng cành nông
Ngày đêm kêu quất, liền xừ vện
Sớm tối hễ ngưng, rà kiểm nòng
Coi kỷ núi đồi, quầm chính xác
Nhìn dò khe suối, định sâu nong
Đầu hôm quấy rối vô phương ngủ
Gần sáng vớt thêm quả lót lòng

Lót lòng đều đặng cứ ngay chừ
Thẳng cẳng lắc hoài chớ ử hư
Sức cở trâu voi còn bãi hoãi
Huống hồ người ngợm tránh sao nhừ
Quan to tẩm bổ cơ hồi phục
Lính lác gạo thô chắc chết đừ
Trả nợ quỷ thần toi mạng sống
Cúc cung tận tụy kiểu sao hừ !


NhàQuê

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2008

ĐXH005- Trần Thế Vui Hơn

Bài Xướng: TÂM SỰ TỪ THỨC

Nàng chốn thiên thai khuất chín tầng
Thân ta phàm tục số gian truân
Lối mòn, lạc bước vào tiên cảnh
Nẻo vắng , vui chơi lánh cỏi trần
Bèo nước tao phùng , duyên thoát tục
Ân tình hội ngộ, kiếp trầm luân
Hợp tan, tan hợp, đời dâu biển
Ta tục nàng tiên khó mãi gần

Nguyễn Tấn Bi

ĐXH005- Bài Họa: Trần Thế Vui Hơn


Trần thế thiên đường cách mấy tầng

Tìm lên nghe nói lắm chuyên truân

Biếng tu khó nỗi về thiên cảnh

Nhát tịnh dễ gì thoát nợ trần

Ở trễn đâu vui bằng cõi tục

Dưới nầy thích mấy chốn nhân luân

Tìm tiên còn khổ hơn qua biển

Ở lại ta em chắc chắn gần

NhàQuê


ĐXH004- Cho Bớt Căng Thẳng

Bài Xướng: Tửu nhập tâm cuồng

Tửu nhập tâm cuồng ngất ngưởng ca
Phong trần cuốn thổi dậy yên ba
Phù sinh nợ trả chưa xong kiếp
Mệnh số cưu mang mãi đến già
Ngắm cảnh nhân gian sa địa võng
Nhìn đời tục thế vướng thiên la
Trầm luân mấy độ lòng thanh tịnh
Bút họa văn thi nhạc rượu trà

Lam Vân

Bài Họa: Say

Men thấm hồn say gõ nhịp ca
Quên sầu nhân thế mặc cuồng ba
Chập chờn ảo giác ghì xuân thắm
Ngây ngất thiên hương phớt tuổi già
Thần trí mơ màng trong cõi mộng
Đào nguyên thấp thoáng giữa tu la
Canh dài gió lạnh lay lay tỉnh
Cổ khát môi khô thèm ...ngụm trà

Trúc Giang 13.10.06



ĐXH004- Bài Họa: Cho Bớt Căng thẳng

Ngày xưa thi cử đáng kêu ca
Mười học xàng rồi gạn được ba
Khuya sớm luyện ôn phờ phạc trẻ
Mai ngày danh phận thảnh thơi già
Ăn trên ngồi trước đời hoa gấm
Khố rách áo ôm kiếp ngựa la
Cay đắng qua sông rồi mới biết
Cười khan, quên quách, nhấp chung trà

NhàQuê

ĐXH003- Đồ Ăn Cưới

Bài Xướng: ĐÁM CƯỚI HỌC TRÒ..MIỀN QUÊ

Cô dâu vừa tốt nghiệp Phổ thông
Chú rễ ra trường Đại học xong
Kẻ ở xóm trên gần sở đáy
Người về đường dưới cận bờ sông
Nhóm họ có thầy cô giáo cũ
Tiệc tùng bè bạn kéo về đông
Trưòng đời chuyển hướng ghi danh sớm
Bạn cũ từ nay hoá vợ chồng

Nguyễn Tấn Bi .



Bài Họa: Rể Tây

Ngôn ngữ là điều để cảm thông
Gặp thằng rể ngoại cũng như xong
Bonjour nó chẳng kêu là tía
Lợt lạt như là nước ở sông
Sui gia chẳng có tình thân mật
Tình nghĩa lờ mờ cách Tây Đông
Được thằng cháu ngoại kêu bằng ngoại
Cũng thấy niềm vui mãi chất chồng

Huỳnh Ngọc Diêu



ĐXH003- Bài Họa: ĐỒ... Ăn Cưới

Mai mối trung gian đã đả thông
Tứ thân phụ mẫu gật đầu xong
Sắt cầm hảo hợp gầy cơ nghiệp
Loan phụng hòa minh vượt biển sông
Giai ngẫu đấp xây nhiều hạnh phúc
Gia đình gầy dựng cháu con đông
Thuần phong mỹ tục ta trân quý
Trọn đạo phu thê nghĩa vợ chồng


NhàQuê