Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

HTT001- Nhật Ký Hải Hành



Anh Trọng thân mến,

Thơ của anh Quang, Tâm sẽ gửi sau, mấy hôm nay anh Tony chỉnh phần bỏ dấu cho em viết email được rồi nè.
Đáng lý Tâm mới là Nhà Quê đó anh Trọng à, không rành về computer lắm mới học sơ qua với ông xã thôi, chẳng bì với ổng cứ tháo từng mảnh trong ruột computer ra để đầy trên bàn, rồi ráp gắn lại y bon.

Trở lại chuyện vượt biên thì lúc đó Tâm viết Nhật Ký Hải Hành trên 2 tờ giấy rời, nay đã vàng cũ và được đúng 30 tuổi vào tháng 6 này, viết bằng thể thơ 7 chữ, thất ngôn tứ tuyệt , Anh Tony có dịch ra bằng thơ sang Anh Ngữ, cùng với bài thơ của anh Tô Kim Quang nữa vì cả hai bài này thuộc về cuốn sách của Tony và Tâm đang viết chưa xong .

Hy vọng sẽ gửi qua anh Trọng vào ngày mai, ( Chỉ riêng phần Nhật Ký Hải Hành thôi ) Tony sẽ giúp em .

Còn bài thơ lục bát này thì không có dịch sang Anh ngữ. Tuy nhiên Anh Trọng có thể phổ biến bài này cách nào cũng được. Thi tập của Tâm sẽ gửi anh bằng đường bưu điện, gửi chuyển Kim Bằng luôn. Đón nhận nhé.

Qua các bài anh viết rất hay, rất chi tiết , và nhất là rất vang vọng thời xưa !!!Rất quý tấm tình yêu Bến Tre của anh. Đọc "Nhật Ký Hải Hành" của em đi, rồi coi ai yêu Bến Tre nhiều hơn nhé .

Thân mến.

Hồ Tâm.



NHẬT KÝ HẢI HÀNH

(Lá thư đầu 8/1980)

Ba Má kính thương,

Ngày tàn tĩnh mịch nơi đây
Màn đêm dần phủ bóng cây dần nhòa
Viết thư sưởi ấm Má Ba
Con ra đi tính hơn đà hai trăng
Biết là Ba Má băn khoăn
Con chưa tin tức nhà đang lo rầu
Xa Cha lìa Mẹ vì đâu
Việt Nam hai tiếng tình sâu muôn đời
Lưu vong một lúc tạm rời
Bơ vơ một thuở bởi thời nước suy
Giang hồ bất đắc dĩ vì
Oan gia nghiệp nước từ khi đổi cờ
Truởng thành rời bỏ ấu thơ
Vượt biên nguy hiểm níu bờ tự do
Thành công rũ sạch âu lo
Lênh đênh mất hướng sóng to phũ phàng
May mà con gặp dàn khoan
Và nay đến được thiên đàng TỰ DO
Kính thư Ba Má đỡ lo
Sau đây con kể tiếp cho rõ ràng

Chúa nhật 1-6-1980

Trời cao thăm thẳm đã ban
Cho con Ba Má đoan trang hiền hòa
Con không nản vẫn nguyện là
Giúp chồng, con, chí dạ mà bền gan
Thuyền con nhỏ bé gian nan
Chỉ một thước sáu bề ngang, còn dài
Thì được tám thước, thương hoài
Lên dàn khoan bỏ thuyền ngoài đại dương
Sau khi thuyền đã dễ thương
Đưa chúng con đến con đường Tự Do
Không như sắp xếp đã lo
Tổ chức mười chỗ không cho hơn người
Bị lạc đi mất hai rồi
Bên xuồng ráp nối tối trời đêm đen
Xăng áo, gạo, nước chờ thêm
Sau hơn ba tiếng không êm nữa rồi
Thủy triều rút, vướng cồn, ôi
Chúng con ra mũi thuyền, tơi tả hồn
Nhỏng bánh lái khỏi cài cồn
Chúng con trong thế điếng hồn hiểm nguy

Tấn? năm chục lít? thấm chi
Thối? Biên phòng đó thiếu gì nhà giam
Nhà con sát vách Ủy Ban
Bỏ từ chiều đến tối gan nào về
Trở vào kẹt trạm ê chề
Đồng lòng hội ý quyết thề ra khơi
Ba ơi chỉ nước và trời
Nước sâu đen oái Trời thời tít cao!
Gần bờ nước biếc trong phau
Càng ra xa biển càng sâu đen màu
Nước sâu ghê rợn chừng nào
Trời cao thử thách ra sao chí người
Cúi đầu nhìn nước vơi vơi
Ngước đầu lên thấy bầu trời bao la
Quê hương càng lúc càng xa
Nhìn quanh con: nước, trời xa trùng trùng

Ngày xưa đi học ở trường
Lấy com pa vẽ dễ thương vòng tròn
Bây giờ nguy hiểm đời con
Rõ đâu tâm điểm rõ vòng bao chung,
Con như tâm nhỏ vô cùng
Của vòng tròn nước mênh mông chân trời!

Biển êm nước lặng thuyền trôi
Trời yên bão gió giúp người vượt biên
Quê cha thăm thẳm một miền
Cao xanh ơi hỡi sao duyên cớ này?
Xa bờ trong dạ mừng thay
Bờ xa càng lúc đắng cay càng chồng
Cọng rau, tấc đất mặn nồng
Ly hương lòng luyến, lưu vong tủi hờn
Ngậm ngùi nhớ những vàng son
Thiên thu thành khói sương còn nữa đâu
Sài Gòn ẩn uất u sầu
Đổi tên dạo ấy nỗi rầu mông mênh

Thở dài một tiếng buồn tênh
Trở về thực tế bồng bềnh đại dương
Chúng con đang nỗi đoạn trường
Phía xa thấy một thuyền đương nhắm mình
Nghe về hải tặc khiếp kinh
Mình quay nhiều hướng, chúng rình đuổi theo
Có lẽ thuyền con tí teo
Hồi lâu họ chẳng thèm theo, hú hồn!

Thứ hai 2-6-1980

Bơ vơ lạc hướng tìm phương
Tự do quý hóa lạ thường Ba ơi!
Ghi hai hình ảnh biển khơi:
Một gặp hai bé chơi vơi lạc hồn
Khoảng năm, sáu tuổi dễ thương
Trồi lên mặt nước bảo con: "Ê mày,
Tao cho đi đó nhưng này
Cho tao mỗi đứa gạo mày đếm năm"
Biết gặp người ở cõi âm
Con ừ gật hứa hồn trầm mất luôn!
Bàn tay nhỏ cứ chờn vờn
Miệng xin tay nhỏ dẫn đường đó Ba
Gạo kia con khấn xong là
Da con nổi ốc da gà giống in
Hai cô bé rất hiển linh
Theo con suốt cuộc hải trình đó Ba,

Má ơi, con rất xót xa
Trùng dương cuốn lấp rất là nhiều thây
Nhiều tàu đi đã bao ngày
Không tin tức chẳng ai hay giữa giòng
Oan hồn lạnh hóa cô vong
Hình ảnh hai bé nhói lòng của con
Tự do đổi chẳng được còn
Cả gia đình ngậm bồ hòn đáy sâu!
Nghiệt oan này bởi nơi đâu
Bao người nước cuốn biển sâu không mồ!

Thứ ba 3-6-1980

Giữa trời mây nước bơ vơ
Thức ăn đã thiếu dầu giờ cạn luôn
Gió êm biển lặng Trời thương
Cá Ông, Voi, Nược (?) ép đường dẫn đi
Thật ra chẳng biết cá gì
Lớn ơi là khiếp con thì chưa trông
Bây giờ đang ở giữa giòng
Rõ ràng trái đất tròn cong vô cùng
Có hai tàu chạy đường cong
Một lên, một xuống con không nhìn lầm
Phi cơ vài chiếc lượn gần
Tưởng như vói được mừng thầm vẫy xin
Lẹ làng họ vút không thinh
Trả chúng con lại riêng mình cô đơn!
Ước ao,ước đến mỏi mòn
Tàu nào đâu đó làm ơn kéo dùm

Thuyền đang chạy bỗng khực khừng
Trời ơi rong biển trùng trùng nước, rong!!
Thuyền con kẹt cứng giữa dòng
Quấn quanh chân vịt rong và nguy sao
Một người mạo hiễm cầm dao
Lạnh mình nhảy xuống cắt vào rong quăn
Sinh tồn đem hết bản năng
Mọi người cùng đẩy rong quăn lui đường
Chúng con đuối sức rong nhường
Thoát ra vùng đó nước mừng vỗ reo!
Tự Do đổi quá hiểm nghèo
Ơn Trên con nguyện hương theo thật thường.

Thứ tư 4-6-1980

Thứ hai đi cũng giữa đường
Thủy Long chắc muốn thử luôn người trần
Cọc neo phân biệt hải phần (?)
Chúng con phăng kéo khi gần hết dây
Đẹp ghê và lạ lùng thay
Như phim người cá (lúc) không may mắc nàn
Chiếc lồng vuông cá trắng, vàng
Đen, hồng lội lẫn trong làn nước xanh
Dù đang kiệt quệ thức ăn
Chúng con đâu dám e rằng Long Quân
Từ từ trả lại hải phần
Lồng kia lại xuống dưới lòng biển sâu

Ba ơi sâu thật là sâu
Chỉ dây không đó (mà) khẩm đầu thuyền con
Thiếu dầu, hụt nước lo toan
Sáu ngưới lớn, trẻ hai, còn nhỏ thôi
Sáng tinh sương với chiều rơi
Người khỏe, trời mát chèo bơi tiếp phần
Chèo nhiều khát, nước cạn dần
Con năn nỉ hãy để dành (cho) cháu Ba
Thấm môi đỡ khát thôi hà
Nhường cho hai trẻ đó là ưu tiên
Tất cả thương hiểu chịu liền
Thắp nhang con khấn Phật nguyền lâm râm

Bỗng tiếng “Khà” lớn thật tanh
Một cá to khiếp hồn xanh trồi đầu
Thuyền con ôi thấm chi đâu
So Cá ấy chỉ cái đầu mà thôi
Cá ơi xin chớ ngoắt đuôi
Thuyền con nhỏ lật úp thời biển sâu !
Cạn dầu dạ trí buồn rầu
Bỗng Đông Nam gió bắt đầu thổi qua
Mền làm buồm lẹ căng ra
Nương nhờ theo gió lòng mà thật vui
Từ hai cô bé biến rồi
Cá gì to lắm không rời thuyền con
Đua dài như ép hai bên
Gió đưa, Cá ép lái, hên vô cùng.

Giựt mình thấy trắng bấp bênh
Vớt xem rác ấy chữ tên là gì
‘’Canon’’ hộp mốp khắc ghi
Người gần đây mới có thì rác trôi?
Hay tàu ai đã qua rồi?
Ai đâu chưa thấy, lòng vui quá chừng
Chiều ngày hôm ấy thật mừng
Thấy con chim nhỏ lượn lưng chừng trời
Tổ ở đâu ? chú chim ơi !
Đất liền gần lắm ? rác trôi chim vờn ?
Chí hừng, sức cũng tăng hơn
Chiều nay thấy đói, cười dòn lung tung.

Thứ năm 5-6-1980

Bốn đêm lo lắng cùng chung
Chúng con bỗng thấy bập bùng xa khơi
Năm đốm cao, khói tít trời
Gần một ngày mới chạy bơi đến gần
Năm cột khói, năm cái cần
Lửa phun phía trước, đốt lần hơi gas
Trời ơi phước đức Ông Bà !
Khóc trong mừng rỡ như là tái sanh!
Còn đang trong dạ băn khoăn
Cập vào đâu? Bỗng thấy rành : "Esso"!
Đồng thời tay nhỏ nhấp nhô
Trồi lên mặt nước vẫy vô chỗ này
BAHAYA giữa, nhắm ngay
Chạy vào thấy chiếc phao dày, lớn thay!
Định vô neo đợi sáng mai
Cạnh chiếc tàu trắng đậu ngay chỗ này
Tự dưng họ vụt chạy bay
Sau khi họ thấy mình ngay nhắm vào
Thôi thì được cả cái phao
Dàn khoan phía trái, thở phào yên tâm !
Chắc tưởng hải tặc, họ lầm
Ước ao họ sẽ thương tâm giúp dùm
Lúc này mưa xuống lâm râm
Chúng con căng vải hứng cầm nước mưa
Mấy ngày trên biển khát vừa
Đói, và mình mẫy rít chưa rít từng
Nóng trời mặn biển hòa chung
Chúng con căng lấy nước cùng tắm mưa
Nỗi lo mới được vơi vừa
Tắm mưa, thêm nước giữ chừa mừng thay!
Neo chờ qua sáng ngày mai
Khoan thai cá lớn lượn hai ba vòng.
Con thầm cảm tạ Thủy Long
Năm (hạt) gạo, năm đốm lửa trong điềm này?

Thứ sáu 6-6-1980

Một điều tuyệt đẹp sáng nay
Mới hoàn hồn ngắm trời, ngày vừa lên
Đã qua mấy buổi hoàng hôn
Xăng dầu nổi chánh đâu còn ngắm chi
Thiên nhiên tuyệt tác vân di
Mặt trời mọc, lặn còn gì đẹp hơn
Biển trời tạo thỏi vàng, son
Phản hình lấp lánh, con còn ngẫn ngơ!
Đến chừng độ khoảng bảy giờ
Bỗng trên nóc đó phi cơ xuất hành
Bay vòng quan sát chung quanh
Thuyền con rồi mới rõ rành mời vô
Từ dàn khoan của Esso
Ống dòm thấy chúng con vô trong thuyền
Bồng con nhỏ, chỉ liên miên
Người đưa thùng vẫy, nghĩa thuyền hết xăng
Chỉ bụng nói hết thức ăn,
Làm như uống nước tay rằng hết luôn
Ba ông cầm mấy ống dòm
Ông to lớn ngã mũ vàng chào ra
Rất là lịch sự Má Ba
Mũ lấy xuống tay kia mà mời vô
Chúng con mừng rỡ vô bờ!
Cặp vào cơm, bánh, sữa, bơ cho mình
Bảo ra phao đợi chờ xin
Nước mà họ sẽ gởi mình : Mã lai
Hùng nghe Anh ngữ hiểu ngay
Chúng con có lúc nói vài tiếng Hoa
Với người Tàu Mã đó Ba
Miễn sao họ hiểu mình là “ok”
Cám ơn họ, phao trở về
Cơm Dương Châu bữa no nê, tuyệt vời
Nhìn con tất cả bỗng cười
Tóc con dựng thẳng giống ơi bụi hành!
Mưa râm, muối thấm, nắng hanh,
Tóc ai cũng dựng giống hành, hẹ thôi!
Con rằng không có kiếng soi
Đó thời cũng vậy, riêng tôi đâu cười
Vậy mà cũng có mấy người
Tiên trên trời xuống giúp đời lọ lem
Cội lành phước lớn đã đem
Chúng con đến gặp người trên dàn dầu
Trời cao thâm thẩm biển sâu
Tự do hai chử trong đầu mà thôi
Đến trưa gió bỗng trở thời
Hướng đông trời thổi gộc nhồi thuyền con
Sóng to dậy muốn đứng tim
Vẫy tay với bạn cho tìm nơi yên
Chúng con được biết Captain
Là Ông Mỹ lớn ra thềm vẫy mau,
Chúng con lẹ lẹ chèo vào
Dây thang thả xuống, áo phao mỗi người
Họ đưa ngón cái lên rồi
Như khen mình bé biển thời mênh mông
Cảm tử coi chết như không
Tự do hai chữ chỉ mong đổi đời
Tình nhân loại ấm thì thôi
Người Hoa, Việt, Mã, Mỹ thời giúp nhau
Không phân biệt sắc da nào
Chúng con cảm kích làm sao trong lòng!
Bao nhiêu xúc cảm âm thầm
Ân nhân ơi hãy nhận dùm chúng tôi
Ông Bà tích đức xa xôi
Bây giờ con được hưởng rồi là đây!
Nghẹn mừng tay níu thang dây
Rời thuyền lưu luyến nhớ ngày lênh đênh
Chở tám chúng con ly hương
Bỏ thuyền ở giữa đại dương thương tình
Má ơi, nghĩ lại giựt mình
Lên dàn khoan được thình lình gió lên
Biển trời mây nước mông mênh
Chúng con còn sống không quên ơn Trời
Sóng to tới tấp nhồi nhồi
Hớp cao một lượn đi đời thuyền con!
Thật là hú vía, hú hồn!
Họ cho mình tạm trú luôn chờ ngày
Gởi mình đến đảo (ở) Mã Lai
Họ đưa mền ấm, đêm nay yên lòng.

Bình minh và hoàng hôn

Sáng chiều nhìn biển mênh mông
Con như cảm nhận Hóa Công ban quà
Phiền lo sầu muộn đã qua
Bình minh rực rạng thật là nên thơ
Đẹp chưa từng thấy bao giờ
Hồn con nín thở ngẫn ngơ lặng nhìn
Ánh hồng ào dạng tràn xinh
Chuyễn vàng ngày mới niềm tin hực màu
Biến thành nắng sáng tung cao
Mang theo nguồn sống mới vào tương lai
Thiên thanh vằng vặt suốt ngày
Những mây trắng thấp, cao bay chập chùng.
Chiều dần thay sắc hoàng hôn
Chúng con chí choé rộn hồn nhìn ham
Mây nhanh tạo thỏi vàng cam
Được viền màu bạc sáng làm nổi hơn
Nền trời bọc áng mây son
Dãy mây chiều xám cạnh vờn dễ thương
Nhuộm dần hồng đá hoa cương
Thiên nhiên pha sắc khác thường tìm đâu
Bày phơi một dãy báu châu
Trên mặt nước đủ sắc màu kim cương
Đá quý, hồng ngọc lạ thường
Hoàng gia như tích trử dường đời nao
Chân trời đẹp biết là bao
Hồng thắm chuyển đỏ tươi vào đại dương
Pha vàng óng ả phi thường
Ân huệ thứ nhất Trời thương ban dành!
Thiên nhiên tuyệt tác nên tranh
Đầu con là máy ảnh canh ghi vào
Hoàng hôn hình rửa về sau
Trí con nhớ đủ sắc màu kể trên
Qua rồi nguy hiểm bấp bênh
Hải hành này khó mà quên trong đời
Tái sinh mới dám ngắm trời
Âu lo quá bỏ quên trôi mấy ngày
Diệu huyền trăng xuống đẹp thay
Phản hình lấp lánh trải dài biển trăng
Ngư Long ôm lấy Chị Hằng
Nhấp nhô nhảy nhót tung tăng biển tình
Nghe lòng cảm xúc im thinh...
Sự chung thủy của mối tình nước trăng...

Thứ bảy 7-6-1980

Ân nhân báo chúng con rằng
Hôm nay tàu lớn đến mang tám người
Chúng con chuẩn bị xong rồi
Trên lầu họ xuống ôm thôi mấy thùng
Bánh ngọt, lạt, trái lung tung
Sô cô la, kẹo cũng chung trong này
Cá mòi thịt hộp phô mai
Chúng con chỉ biết nói hoài: “Thank you”
Bắt tay nói “Good bye” nhiều
Tàu Pacific được kêu đến rồi
Ra đi trong dạ bồi hồi
Cầu xin sắp tới những người giúp con
Giống như họ, những quới nhơn
Đầy lòng nhân ái giúp cơn nguy này.
Lên tàu lớn con mới hay
Có chiếc thuyền khác chở hai mươi người
Vượt biên cũng giống con thôi
Và trên biển cả nổi trôi hai tuần
Không may bị hải tặc quần
Phụ nữ, bé gái, đau lòng Má ơi!
Bị hãm hiếp đến tơi bời
Chồng, cha, binh vực thây thời biển sâu!
Hai mươi người còn đủ đâu?
Được cứu đếm lại số đầu mười hai!
Nhờ tiềm thủy đỉnh ra tay
Trồi lên cứu, kéo gởi ngay dàn bìa
Ông kia bị chặt tay lìa
Họ cầm giữ cánh tay kia theo tàu
Hy vọng ráp được ngày sau
Ướt mi lệ tủi đồng bào của con
Dã man bọn cướp biển còn
Chế dầu nhớt cặn đen ngòm phát kinh
Vào phụ nữ ở cửa mình
Cha con, cướp bắt làm tình khốn thay
Nếu không con gái thành thây
Vất đi xuống dưới biển đầy rời ghe
Chị em mồ nước đoạn lìa
Một em bé gái góc kia khóc ầm
Bé bị hãm mới lên năm
Người đang bế bé mặt bầm tím thương
Họa đại dương hay tai ương
Của dân tộc Việt đau thương bước này!
Con, trong lòng rất u hòai
Thương đồng hương gặp đọa đày khiếp kinh
Con ngồi uất khổ lặng thinh
Cảm ơn Thượng Đế giữ gìn chúng con!
Đi trên tàu lớn an toàn
Chúng con lại bị ói nôn say cuồng
Khác khi trên chiếc thuyền con
Tất cả tỉnh táo, chèo còn làm thơ
Tàu PACIFIC EXPLORER
Đến 10 giờ rưởi cặp bờ đảo tên:
PULAU BIDONG bước lên
Ngàn ngàn người Việt đón bên cầu tàu

Họ đến đây tự lúc nào
Đôi bên chạm điển đồng bào, cảm thương
Đồng thời lòng dậy nỗi buồn
Bao nhiêu đây đã rời nguồn vì sao?
Hai nhóm người cố tìm nhau
Nhìn từng gương mặt với ao ước rằng
Họa may gặp được thân nhân
Bước định cư sẽ vơi phần bơ vơ
Nhìn nhiều gương mặt bơ phờ
Đây những dấu hiệu đợi chờ quá lâu
Số người đông, quả lo âu
Mười một ngàn lẻ, biết rầu lòng con.

Ở Bidong một tháng tròn
Phái đoàn Úc nhận chúng con đi liền
Loa gọi tên, số liên miên
Rời Bidong chuyển trại liền TRENGGANU
Sau hơn tám tiếng mệt đừ
SUNGEI trại Úc hiện từ KUALA (Lumpur)
Nơi đây ở tất cả là
Mười ngày có list về và vui thay!

Có tên đi PERTH ngày mai
Tiểu bang ở Úc an bài miền Tây
Má Ba có biết đêm này
Chúng con không ngủ rộn thay vì mừng!
Chuyến máy bay lớn vô cùng
Năm trăm khách, cánh sắt tung lên trời
Ân cần chiêu đãi tiếp mời
Trà, cơm, rượu, thức ăn ơi huy hoàng
Tí ti nào cũng đẹp sang
Nhạc Tàu, Mỹ muốn tai mang ống vào
Sang băng tay dựa nút nào
Nếu bấm lầm nút họ chào hầu ngay
Tặng mình bóp cắt móng tay
Mỗi người kỷ niệm chuyến bay riêng phần

Hàng không đất Mã tối tân
Nay được đến Úc bội phần tiến hơn?
Khi vừa đáp xuống phi trường
Trạm quan thuế khám tinh tường lắm Ba
Hành lý túi nguyên xi mà
Cho vào trong máy hình đà rõ ngay
Cũng như các shop bên này
Hàng bày rực rỡ chẳng ai trông chừng
Kẻ gian thấy thế vội mừng
Tiền mà không tính cửa đừng hòng ra
Tiền cho vào máy xong là
Tự động cửa mở mời ta ra về
Cháu Ba chơi kiểu nhà quê
Bước tới cửa mở chẳng hề bước ra
Chạy lui chạy tới giỡn mà
Gạt cửa đóng mở cháu Ba quá chừng
Nhìn chúng nó sống vui mừng
Con đây thấy ấm trong lòng lắm thay

Bỉ cực cố mím bao ngày
Tiểu bang PERTH cũng thới lai đây rồi
Chúng con đã khấn một lời
Ăn chay hai tháng tóc thời xuống luôn
Lúc con khởi sự lên đường
Chỉ câù nguyện một tháng truờng chay thôi
Nhưng khi xuồng lạc nhau rồi
Eo ơi sợ quá ra khơi hiểm nghèo
Thêm tháng chay nữa nguyện theo
Lời cầu nguyện hãy còn treo chưa tròn
Nhưng trong tâm mọi chúng con
Vẫn hằng tha thiết nguyện tròn lời trên
Chung cư nấu món gì lên
Chúng con không được ăn riêng bởi vì
Không bếp không nấu được chi
Khi con ra mướn nhà thì đỡ hơn

Bây giờ gần đến nửa đêm
Má ơi con muốn gởi thêm tâm tình
Kể từ cha mẹ dưỡng sinh
Lớn lên ăn học thấy mình thành nhơn
Con luôn thầm rất biết ơn
Của Ba Má đặt tên con thật nhiều
Chữ Tâm, Đức Phật cao siêu
Đã chọn để dẫn dắt nhiều hướng tu
Con hằng hãnh diện cũng như
Giữ mình mà sống thiện từ như Tâm

Phước nguồn từ thuở xa xăm
Bấp bênh trên biển thấy căn cội này
Thâm ân cha mẹ là đây
Thật con không biết đáp ngày nào hơn
Thượng Đế chắc đã thương con
Vượt biên cảnh rối mà còn không quên
Năm lư hương thỉnh ôm bên
Môt chai nước nhỏ, đất trên nền nhà
Con xắn môt cục đó mà
Nếu đi được, đất, nước là quê hương
Tượng trưng thờ phượng rất thường
Thế nào cũng có hồi hương một ngày
Đất Nước qua tới bên này
Ấm lòng vì chẳng có ai như mình
Hồn sông núi rất hiển linh
Chữ "S" nhồi đất thành hình quê hương
Sưởi lòng trong lúc tha phương
Nhớ nhà đất cứng hoài nguồn nước vơi
Lũy tre ao cá xa rồi
Mẹ cha giờ ở bên trời tít xa
Nơi đây cũng nắng ấm mà
Sao không giống nắng quê nhà của con
Quê hương và thuở vàng son
Đành từ nay chỉ thấy còn nơi tâm

Lịch sử Việt đã lỡ lầm
Ghi thêm một bước thăng trầm này chưa
Con ngồi nhớ núi sông xưa
Thấy mình như chợt mới vừa nằm mơ
Non xanh, núi cũng xanh chờ
Lòng con rối rắm mối tơ ưu phiền
Băn khoăn rời bước xuống thuyền
Ra đi là biết xa miền quê yêu
Nhớ thương từng những buổi chiều
Sáng trưa đi học với nhiều bạn, thân
Nhớ hồ Chung Thủy nước xanh
Trúc Giang lơ lững ôm quanh hàng dừa
Xạc xào nhớ gió đong đưa
Nhớ hàng liễu thắm chờ mưa trỉu tình
Nhớ ngã Ba Tháp thật xinh
Sao con diễn được nổi tình nhớ thương

Chiều buồn đơn dạo Phú Khương
Nhặt Bằng Lăng tím bên đường ép tim
Hoa Bằng Lăng tím đâu tìm
Dấu yêu nay phải lắng chìm phôi pha
Thương thời cắp sách quê nhà
Thương người năm ấy thật là thương thương !
Âm thanh màu sắc quê hương
Tình quê tình nước vấn vương trong lòng
Thương trăm trứng của Tiên Long
Nở ra một số long đong xứ người
Ba giờ khuya đã qua rồi
Mãi mê tâm sự đêm trôi âm thầm
Con xin Ba Má an tâm
Chúng con đến Úc trong tầm bình an
Chúng con tất cả an toàn
Còn hai lạc mất, buồn san sẻ vì
Thiếu ngôn ngữ biết nói chi
Chính con không nghĩ lần đi này thành.
Đời con có những khúc quanh
Thật là quá gắt con đành tỉnh bơ,
Đêm nay yên lặng như tờ
Con say yên lặng hồn bơ vơ buồn
Bốn bề vắng thấm cô đơn
Bốn bề vắng thấm thấu hồn, xương, da!
Tàn mơ yên lặng như là
Dao đồ tể bén thái ra nhỏ phần
Trái tim vô tội của thân
Rức thương ruột thịt xa gần của con
Gửi Ba Má nhiều thương hôn,
Gửi Việt Nam tất cả hồn của con. . . .

Hồ Tâm
















Thứ Ba, 27 tháng 4, 2010

TEU128- Của Chìm Của Nổi

Của Chìm Của Nổi

(X-Ray Lòi Ra Miếng Sắt Trong Người)

Thân thể ta mang thương tích
Chung cùng đất nước niềm đau
Mỗi khi trở trời nhức buốt
Mới đó bốn mươi năm lâu

Lãng quên thành khó thể ngờ
Tìm đâu trong đống giấy tờ
Săm soi lên vùng bỏ phế
Nép mình miếng sắt bá vơ

Vậy mà bốn mươi hai năm
Người đi vật theo âm thầm
Sợ ta quên khi đây đó
Nên chi tìm chỗ yên nằm

Giàu sang khi rời cõi thế
Ngậm theo chút ít quý kim
Cười thầm ta giờ sẳn có
Thì thôi ...gọi đó "của chìm"

NhàQuê Apr 26, 2010

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

HOT066- Như Mọi Ngày

Như Mọi Ngày

Sáng ra nhìn khắp xem gì lạ
Cũng vẫn vàng hoa dọc lối đi
Thêm mấy gốc đào hồng trỗ muộn
Chồi xanh nức nụ mỉm xuân thì

Xe đến ngã tư vô cảm ngừng
Tới phiên lại tiếp vẻ dửng dưng
Trên cao phiêu bạt vài cụm trắng
Dốc thoải ta đang tới giữa chừng

NhàQuê Apr 21 2010

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

TEU127- Còn Ngon

Còn Ngon

Biết mình không vướng vô bịnh ngặt
Có chút mừng có chút nghi nan
Chắc ta thuộc loại người cõi khác
Máy móc bó tay... xếp giáp hàng

Ta thường xem nhẹ chuyện bệnh đau
Thầy thuốc vây quanh bực lại rầu
Cho những thân tình ...hay lo nghĩ
Tự lượng về mình....thấy gì đâu

Vẫn ăn vẫn uống vẫn yêu đời
Vẫn hăng vẫn hái nhập cuộc chơi
Vẫn thích vẫn mê như thường nhật
Vẫn là vẫn vậy giữa đất trời

Chắc tại chưa.... hay quên giũ sổ
Thì ta cứ việc tiếp tục đi
Ngao du đây đó chừng nào họ
Trực nhớ gọi tên ...chớ rắp gì

NhàQuê 08-04-10

Bông Chùm Ngây


Trái Chùm Ngây


Cây Chùm Ngây


Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

Nhân Mùa Anh Đào@DC Apr 02, 2010



Nhân Mùa Anh Đào@DC Apr 03, 2010



Gặp Luân Tâm Lần Đầu Ở Falls Church, Virginia

Nhân Mùa Anh Đào@DC Apr03, 2010


Tới Thăm Gia Đình Luân Tâm@ Olney, Maryland
Đứng: Luân Tâm, Minh Thư, Phượng&Bình, Mỹ Lệ, Annie, NhàQuê
Ngồi: Bùi Thị Luân

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

HOT065- Qua Miền Cổ Tích













Qua Miền Cổ Tích

Một lần về phố xưa
Nơi tháng ngày trọ học
Dãy nhà cũ không còn
Biệt thư ai mới cất

Trụ điện vẫn một nơi
Chằng chịt dây đủ loại
Bóng đèn tuốt trên cao
Lòng đường soi có tới

Cây trứng cá mất rồi
Sân thành vườn hoa lạ
Muốn đứng lại thử nhìn
Cố đoán tên loài kiểng

Qua thêm nhiều ngõ khác
Hình như chẳng ai quen
Hay ta từ cổ tích
Tìm phần đời bỏ quên

NhàQuê Mar 19, 2010

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

ST005- Bông Su Đũa










Bông Su Đũa


Nghe đó,,, mà nôn dạ ... nhớ đồng
Vườn hoang su đũa mọc ... đầy bông
Cơm trắng thơm chen nồi bóng trứng
Cùng canh su đũa,,, tép ngoài sông

Như thoáng qua lòng ngọn gió quê
Ngút ngàn thhương nhớ đến đê mê
Chờ dăm ba bữa trời quang đảng
Đan cánh bầy chim nối gót về ...

Ngọt bùi âm ỉ cháy hương khuya
Sâu thẳm niềm riêng gió chướng lùa
Đong đưa su đũa xưa gào thét
Xui lòng tê tái ... đổ cơn mưa ....

songthhương

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

HOT064- Sóng Bổ Ghềnh & Mùa Điên Điển























Sóng Bổ Ghềnh & Mùa Điên Điển

Giữa đêm thức giấc nằm nghe sóng
Thoạt đến rất gần lại vụt xa
Ủa lạ nơi đây triền núi thoải
Ờ ... xe âm vọng tưởng bên nhà

Tiếng sóng bổ ghềnh một thuở xưa
Ngủ trong tâm tưởng đợi tới mùa
Gió chướng từng cơn lùa biển chạy
Bao lần phát nhớ giữa canh khuya

Cứ thường ưa hỏi trái gì đang
Ra hoa hay đã ửng chín vàng
Tuy nhớ y nguyên mùa nào rộ
Xem giờ có khác ...khác nhiều chăng

Hết nửa đời người vùng châu thổ
Đi từ cửa biển vô Tháp Mười
Nhiều đêm neo đậu chờ nước thuận
Bất chợt nghe ùm tiếng trái rơi

Ngang vùng Sa Đéc mùa điên điển
Hai bờ ai cắm rực vàng bông
Cột ghe len lỏi lên phiên chợ
Thèm quá canh chua món cá đồng

NhàQuê 18-03-10

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010

HOT063- Tranh Cố Hương



















Tranh Cố Hương

Làng quê ơi xin muôn vàn tạ lỗi
Chậm viết thành lời ca tụng cưu mang
Bởi dâu biển bủa sóng ...đời trôi giạt
Hai mươi năm còn chưa hết bàng hoàng

Chừng đã gói mang theo hầu đây đó
Giở ra nhìn ru nỗi nhớ chợt dâng
Mảng vô hình trong sâu từng thúc giục
Đưa quê xa vào cung bậc điệu vần

Con rạch nhỏ bao lần trầm tắm mát
Nước sữa nâu mùa ngọt những phù sa
Đậu chân lúa hóa thân đòng kết hạt
Độ vàng ươm cơn gió gợn la đà

Biển có mặn vô vòng đành khuất phục
Trưa nắng hè hừng hực bốc hơi khô
Ai hiểu hết công nên viên muối trắng
Có phải đâu nước lã khuấy nên hồ

Trai gái quê nghèo da nâu chân đất
Guốc dép làm ngượng nghịu có đôi khi
Bẳng một dạo xóm trên và xóm dưới
Thành bà con chú bác thím cô dì

Cổ Thụ ngả hồn còn luôn phảng phất
Ngẩng đầu trông về phía biển xa xa
Đợi từ khơi từng đàn thuyền rẽ sóng
Vẻ no nê hướng về lại bến nhà

Như thế đó thật đơn sơ mộc mạc
Đã bao đời rất ít những đổi thay
Dù sống chỗ nhiều danh lam thắng cảnh
Tranh cố hương chấm phá đẹp khôn tày

NhàQuê Mar 17, 2010

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

Bầm Giập Một Bài Thơ (Giai Thoại)

(Xin phép nguồn ghi bên dưới được đăng lại- NhàQuê)
TRĂNG NGHẸN là bài thơ của Hoài Tường Phong vừa đoạt giải Nhất cuộc thi thơ đồng bằng sông Cửu Long do các Hội Văn học - Nghệ thuật trong khu vực nầy liên kết tổ chức, tỉnh Cần Thơ đăng cai. Nhưng một sự cố lạ lùng chưa từng có đã xảy ra: Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng Ban Giám khảo cho hay, một số cơ quan "có thẩm quyền" ở thành phố Cần Thơ (thực chất là không có thẩm quyền) đã yêu cầu Ban Giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất, vì bài nầy u ám quá. "Trăng thì phải sáng, thậm chí rất trong sáng chớ không thể nào nghẹn được". Ban Giám khảo đã quyết định không chấm lại, cuối cùng họ quay sang tác giả. Nhà thơ Hoài Tường Phong cho biết, mấy ngày nay chủ tịch Hội Văn nghệ Cần Thơ yêu cầu ông làm đơn từ chối giải thưởng với lý do "tôi không có gởi dự thi". Ông khẳng định rằng "tôi đã gởi dự thi", sau đó vị chủ tịch Hội Văn nghệ lại yêu cầu ông làm đơn xin từ chối giải thưởng với lý do "Thơ tôi có nhiều câu chữ không phù hợp với tiêu chí cuộc thi". Ông Phong nói "Đó là việc thẩm định của Ban Giám khảo".

Xin miễn bình luận về sự kiện nầy.
Mời các bạn đọc bài thơ TRĂNG NGHẸN
đã được công bố giải Nhất vừa qua.


bài thơ TRĂNG NGHẸNMẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.















Hoài Tường Phong

Tác giả Hoài Tường Phong ở nhà số 94A/17, đường Trần Quang Diệu, phường An Thới (Bình Thủy, Cần Thơ). 


Ông sinh năm 1945

________________ _________TIN MỚI NHẬN:Chiều ngày 3-03-8010, Ban thường vụ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Cần Thơ đã họp và chính thức quyết định loại bỏ giải Nhất của bài thơ Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong.
Rõ ràng đây là một sự lạm quyền hay lộng quyền thô bạo chưa từng có của một Hội văn nghệ địa phương
vì đây là một giải thơ của khu vực ĐBSCL.

Thật không còn gì để nói.
_________________
Vietnam Library Network

Lời người đăng bài:
Bài thơ TRĂNG NGHẸN chưa phải là bài thơ toàn bích, nhưng đã làm trọn được vai trò chuyển tải thông điệp của nó, bên cạnh đó Tác Giả đã không là Thợ Thơ làm theo đơn đặt hàng . Thật Lý Thú !
NhàQuê Mar 08, 2010
-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-

THẤY THÊM GÌ VỀ CUỘC THI THƠ ĐBSCL LẦN IV QUA BÀI VIẾT CỦA THỌ HẢI ?

Cấm SơnTHẤY THÊM GÌ VỀ CUỘC THI THƠ ĐBSCL LẦN IV QUA BÀI VIẾT CỦA THỌ HẢI ?
Thạch Sơn (ở vài trang mạng khác thì dùng bút danh Thọ Hải),có lẽ là một trong những người nằm trong Ban tổ chức cuộc thi thơ ĐBSCL lần IV,lại vừa có bài viết tiếp về cuộc thi này,mang tựa đề: “Điều “tồn nghi” từ cuộc thi thơ ĐBSCL lần IV-2009”.Qua đó,hé lộ thêm cho giới quan sát nhiều thông tin khá thú vị ,thuộc phía hậu cung.

1-Cấp sơ khảo cuộc thi gồm có ba người.Một, ông Trịnh Bửu Hoài (theo nhiều nguồn tin chính thức ông này là trưởng Ban sơ khảo kiêm ủy viên Ban chung khảo).Hai,ông Kim Ba (ủy viên).Ba,ông Nguyễn Thượng Hiền (ủy viên).Trong đó,hai ông đầu đều là nhà thơ Hội viên Hội nhà văn VN còn ông Nguyễn Thượng Hiền chỉ là nhà thơ “trơn”,chưa phải hay “không phải” là Hội viên Hội nhà văn VN.

2-Cuộc thi có cả thảy 915 bài tham dự.Ông Nguyễn Thượng Hiền(NTH) cho điểm 5 trở lên được 50 bài; từ điểm 4 xuống tới điểm 3 là 35 bài ;còn điểm 2 là 830 bài.(Trong lúc đó,hai ông sơ khảo còn lại đã cho điểm 915 bài dự thi kia như thế nào thì không thấy tiết lộ.)

3-Bấy giờ,theo ông Thạch Sơn trong bài viết nói trên, “… vì ông Hiền cho nhiều bài điểm liệt là 2 như thế, nên “Trưởng ban tổ chức (vẫn) để cho Ban Sơ khảo tính điểm chọn bài vào Chung khảo chủ yếu căn cứ vào điểm của hai ông Trịnh Bửu Hoài và Kim Ba”(KB).Nghĩa là ,bấy giờ,bằng một phương cách như thế nào đó ,dù ông NTH vẫn còn vai trò chức trách quyền hạn của một trong ba vị trong Ban sơ khảo , song quan điểm,ý kiến của ông trong việc thẩm định 915 bài thơ dự thi ,thể hiện tập trung qua bảng thống kê điểm chấm nói trên,đã bị “ai đó” có thẩm quyền trong Ban sơ khảo loại bỏ,không chấp nhận, dưới sự đồng tình “vẫn để” (như vậy) của ông Trưởng Ban tổ chức Phan Huy. (PH)

4-Vậy cái người “ai đó” là ai nhỉ?Để làm gì?Vì sao ông Trưởng Ban tổ chức PH “vẫn để cho Ban sơ khảo…”,mà trưởng của nó là ông TBH, làm cái điều lấn áp,vô hiệu cả tờ quyết định bổ nhiệm thành viên Ban sơ khảo của ông trước kia (và vẫn còn giá trị cho đến thời điểm đó…)?Và,một khi đã như vậy thì cuộc thi có phải đã bị hỏng hư,méo mó,thậm chí đã bị một mưu đồ tư tà nằm ở đâu đó soán đoạt thành công cơ cấu khách quan “ba chân vạc giám khảo” ngay từ sự kiện kỳ dị này:Bỏ (gần như toàn bộ) kết quả điểm chấm của một thành viên trong Ban sơ khảo để hai người còn lại có thể “chọn bài vào chung khảo” theo ý của “ đôi ta”?

5-Tất nhiên,người viết bài này rất biết rằng kết quả sơ khảo, chỉ lấy từ điểm chấm của KB và TBH nói trên , vẫn phải tiếp tục đưa lên cho cấp chung khảo chấm lần hai ,cũng là lần cuối cùng, để từ đó cho ra kết quả giải thưởng.Thế nhưng,tại đây,vấn đề soán đoạt tư tà cuộc thi nói trên vẫn đâu đã hết.Với tư cách là người được Ban tổ chức “bố trí” như thế này: “xét thấy trong Ban Chung khảo cần có một người đã nằm trong ban Sơ khảo để xem xét các bài thơ có lý có tình hơn, có thể trình bày lại các ý kiến của Ban sơ khảo (cũng do chính Trịnh Bửu Hoài làm trưởng) vì sao lại đưa 60 bài này vào Chung khảo, nên Ban tổ chức tiếp tục mời nhà thơ Trịnh Bửu Hoài làm thành viên ban Chung khảo, chứ không hề có việc “xin xỏ” nào cả ”( Thọ Hải giải thích,xác nhận trong một bài viết trước kia ) thì rõ ràng ,tại đây,TBH vừa được quyền “cho điểm sơ khảo lần 2 và cuối cùng một mình” (vì đã không hề có quy chế lấy điểm tổng bình quân kết quả sơ khảo cộng vào điểm tổng bình quân cấp chung khảo-rồi chia hai- xảy ra ) trong tư cách một trong ba ủy viên Ban chung khảo lại vừa được phép làm nhiệm vụ lobby công khai cùng hai giám khảo còn lại theo một định hướng nhân sự “được phép trang điểm giải thưởng”như thế nào đó…

6-Cái gì thúc đẩy hình thành nên hiện tượng TBH trong cơ cấu liên thông hai cấp giám khảo trong mục đích phá hỏng “thế ba chân vạc” như vậy?Có phải còn có một thế lực không chính danh nào khác bên ngoài cuộc thi này đã cố tình chen tay vào nhằm “thực thi chính sách nhân sự có thể được trang điểm giải thưởng” như thế nào đó,bất chấp tác phẩm của họ hay dở ra sao,có điểm cao thấp với các tác phẩm cùng vào được chung khảo còn lại như thế nào (dù chỉ hình thành từ tình trạng đã bị phá thế “giám khảo ba chân vạc” nói trên rồi) ,tập trung “ác liệt” nhất nơi cửa ngõ cấp chung khảo,mà TBH (dưới sự đồng thuận vô tình hay cố tình của ông trưởng Ban tổ chức PH) là người được ký thác,phân công vào chuyện này ,từ một ai đó?!

7-Người viết bài này đặt ra nghi vấn này có khi đang tạo ra một điều rất đáng ngạc nhiên cùng dị ứng cao độ cho những ai xưa nay vốn dĩ thiệt thà trước màu hào quang lấp loáng rạng ngời cao cả luôn tỏa ra từ những người có mác nhà văn nhà thơ cấp TW ,có dính dáng gần xa tới cuộc thi thơ này.Tuy nhiên,nếu không đặt nghi vấn này ra thì không thể giải thích được nhiều vấn đề bất thường không thể không chú ý đặc biệt nơi cuộc thi.Đó là vì sao bài Sương Hồ của Lê Thanh My,vừa lạc đề tới vạn dặm xa,vừa trống rỗng về trình độ, tính chất nghệ thuật,vừa lấy những hình ảnh “Giang hồ -túi rỗng-mộng đầy trăng”, “ Hảo Hán, hề…,bó gối ,khoanh tay”, “Ta mang hồn đi rong” ( mang đầy chất bụi đời xã hội đen thời trung cổ bên Tàu )làm ngọn cờ lý tưởng thẩm mỹ cho thông điệp nghệ thuật,cho đề nghị nghệ thuật tột cùng của nó cùng cuộc sống hiện nay (vốn đang có nhiều vấn đề kinh tế -chính trị nội ngoại phức tạp đặt ra trước mắt người ĐB nói riêng , cả nước nói chung) mà lại có thể đẩy lên tới giải hai ,hạng trên, từ 2 điểm liệt của giám khảo Nguyễn Thượng Hiền; điểm 4 của giám khảo Kim Ba ?( nhất là khi đây là một cuộc thi mà ông trưởng Ban tổ chức “mọc lên” từ tư cách đương kim chủ tịch một cơ quan văn hóa nghệ thuật cấp nhà nước TP trực thuộc TW ,có sự tài trợ của Hội nhà văn VN,có sự giám sát theo dõi trực tiếp của ông phó chủ tịch Hội nhà văn VN kiêm chủ tịch Hội nhà văn TPHCM Lê Văn Thảo).Đó là vì sao,bằng mắt thường thôi,rất nhiều người đều thấy mồn một ,rõ ràng các tác phẩm đang nằm ở giải khuyến khích trong cuộc thi thì lại hay hơn “đối với” những bài nằm ở các hạng giải phía trên nó,trong đó có cả bài Sương Hồ của Lê Thanh My vốn đã sai hẳn đề tài như trên đã nói?

8-Nên chăng phải chấm lại toàn bộ bằng một cơ chế nhân sự ,bằng một quy trình tính điểm có đủ tính khoa học và khách quan bên trong hoặc là phải hủy toàn bộ cuộc thi này để tổ chức lại cuộc thi lần IV vào một dịp khác vì những dị thường đặc biệt tồn tại trong hệ thống giám khảo cùng dọc dài theo tiến trình xảy ra cuộc thi nói trên?Vì còn danh giá gì nữa,vui vẻ hãnh diện gì nữa nơi cuộc thi này dù cho bằng chứng nhận giải thưởng cùng tiền bạc tương ứng có được phát ra ?!

CẤM SƠN 16/3/2010
-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-

SỰ TÙY TIỆN Ở CUỘC THI THƠ ĐBSCL LẦN THỨ IV – 2009LÊ XUÂN

(Thư ký cuộc thi thơ ĐBSCL lần thứ 4 - 2009)
SỰ TÙY TIỆN Ở CUỘC THI THƠ ĐBSCL LẦN THỨ IV – 2009Sau khi cuộc thi Thơ khu vực ĐBSCL lần thứ 4- 2009 do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) TP Cần Thơ đăng cai tổ chức, được công bố lên mạng thì có nhiều ý kiến trái chiều về bài “Trăng nghẹn” đoạt giải Nhất của tác giả Hoài Tường Phong. Việc khen chê là điều bình thường sau mỗi cuộc thi. Thậm chí có cuộc thi đã trao giải rồi, Ban tổ chức thấy có sự cố vẫn có thể công bố rút giải lại. Nhưng điều đáng nói ở cuộc thi Thơ lần này là sự lạm quyền, tùy tiện của ông Phan Huy – Chủ tịch Liên hiệp các hội VHNT TP Cần Thơ làm Trưởng ban tổ chức.

Trước hết phải khẳng định một điều, đây là cuộc thi ở cấp khu vực thuộc 13 tỉnh, thành ĐBSCL thỏa thuận, góp tiền thưởng để tạo một “sân chơi” nhằm đánh giá và động viên cho sự phát triển thơ ĐBSCL chứ không phải cuộc thi Thơ của TP Cần Thơ, nên những việc quan trọng đều cần có ý kiến của Chủ tịch các Hội VHNT trong khu vực. Đằng này ông Phan Huy phớt lờ tất cả, không tôn trọng ý kiến ban Chung khảo và của công chúng yêu thơ. Từ đó dẫn đến một số sai lầm đáng tiếc:

Cái sai thứ nhất là dung túng cho một thành viên ban Sơ khảo: Đó là ông Nguyễn Thượng Hiền, một hội viên rất yếu về thẩm định thơ. Thơ ông Hiền chỉ đăng ở cấp quận, huyện. Trong khi đó ở TP Cần Thơ và các tỉnh khác không thiếu các nhà thơ là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Chính ông Hiền đã để lại một hậu quả nghiêm trọng. Ông chỉ chọn 50 bài từ điểm 5 trở lên để đưa vào vòng Chung khảo. Số còn lại ông chỉ “liếc qua” rồi cho điểm từ 4 trở xuống, trong đó có khoảng 830/915 bài bị điểm 2. Thành thử rất nhiều bài bị điểm oan, bởi ông Hiền cho nốc-ao ngay từ vòng loại. Việc làm này buộc ban Sơ khảo phải gỡ rối bằng cách chủ yếu căn cứ vào điểm của 2 giám khảo còn lại là nhà thơ Trịnh Bửu Hoài và nhà thơ Kim Ba để chọn bài vào Chung khảo. Lẽ ra thấy tình hình như vậy, ông phải đình chỉ ngay ông Hiền, mời một thành viên khác để cùng hai giám khảo chấm lại 830 bài do ông Hiền cho điểm 2, nhưng ông đã lờ đi. Kết quả 60 bài được chọn vào vòng Chung khảo cũng chỉ là tương đối. Theo tôi sẽ còn nhiều bài khá, bài hay bị bỏ lọt. Như vậy cái sai này là hệ lụy của những cái sai sau, nó không phản ánh trung thực thơ của các tác giả.

Cái sai thứ hai ông đổ thừa trách nhiệm cho người khác : Sau khi có kết quả Chung khảo, ông và mọi thành viên đã ký vào biên bản (có 5 chữ ký tất cả, tôi còn giữ văn bản) rồi bảo tôi (Lê Xuân - Thư ký cuộc thi) đưa thông tin này lên mạng để báo cho mọi người vui mừng, phấn khởi và thăm dò dư luận. Ông tỏ ra rất phấn khởi khi đơn vị mình đăng cai đoạt được 2 giải: Nhất và Ba. Nhưng sau khi có một số ý kiến khen chê bài giải Nhất. Đặc biệt có một số ý kiến cá nhân “ngoài văn chương” phê phán bài “Trăng nghẹn” là bi quan, đen tối, nói xấu ĐBSCL, thế là ông sợ liên lụy đến chức vụ, đã nuốt lời, phê bình tôi tự đưa kết quả lên mạng. Thời đại ngày nay là thời đại luôn bùng nổ thông tin, ít cái có thể che giấu. Và việc tôi đưa thông tin về kết quả cuộc thi lên mạng là thông tin báo chí, rất có lợi cho việc quần chúng yêu thơ thẩm định tác phẩm. Không có trọng tài nào công bằng hơn công chúng và thời gian. Mặt khác, cũng không có quy chế nào, văn bản nào của cuộc thi Thơ lần này cấm đưa thông tin lên mạng.

Chính nhà văn Lê Văn Thảo, nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, nhà văn Nguyễn Khai Phong đều bảo cần phải đưa kết quả cuộc thi lên mạng ngay, để còn 7 ngày nữa là đến Nguyên Tiêu, trao giải. Kế hoạch cũng đã lên thật hoành tráng, có truyền hình trực tiếp để tôn vinh thơ khu vực ĐBSCL. Nhưng vì sợ cấp trên nên ông đã ngừng việc trao giải trong đêm Nguyên tiêu. Và ngày 3- 3- 2010, ông tổ chức cuộc họp “Thường vụ mở rộng” lãng xẹt, trong đó có 6/9 vị ở cuộc họp này lại là dân “ngoại đạo” văn chương, để cuối cùng ông căn cứ vào số đông 7/9 đồng ý không trao giải Nhất. Biên bản cuộc họp cũng đã được gửi cho Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Cần Thơ xem xét. Việc làm này ông không hề tham khảo ý kiến Chủ tịch các hội VHNT khu vực ĐBSCL, không tôn trọng kết quả của Ban Chung khảo. Phải khẳng định một điều rằng: Ban thường vụ Liên hiệp các Hội VHNT TP Cần Thơ không có quyền cùng ông Phan Huy hủy giải Nhất.


Cái đáng phê phán thứ ba là ông thay đổi thái độ và quan điểm như thay áo:. Sau khi báo chí lên án một số việc làm tùy tiện và lạm dụng quyền hạn của ông thì ông lại ngụy biện. Lúc ông bảo: “Mọi việc đều do tôi- Trưởng ban tổ chức cuộc thi, quyết định”. Lúc lại bảo: “Bản thân tôi vẫn tôn trọng ý kiến của Ban Chung khảo”. Khi thì nói: “Để chờ ý kiến cấp trên”. Lúc lại “dụ” ông Hoài Tường Phong như dụ trẻ con, bảo ông “rút giải”, hoặc “không dự thi”, hoặc “ông không nhận giải, sang năm tôi sẽ đầu tư cho ông số tiền bằng giải thưởng (6 triệu) để in tập thơ”… Và sau nữa ông tuyên bố hùng hồn: “Tuần sau sẽ vừa mừng trụ sở hội mới và trao giải cuộc thi thơ luôn” (Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 14- 3- 2010). Đến hôm nay, cơ quan đã chuyển về trụ sở mới vừa sửa chữa xong. Liệu tuần này ông có tổ chức phát giải không? Dư luận đang chờ đợi lời ông Phan Huy xem có thành hiện thực không? Lẽ ra những chuyện ngụy biện loanh quanh đó không nên có ở một vị Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT của một thành phố Đô thị loại I, trực thuộc Trung ương. Quả là “lưỡi không xương nhiều đường lắt lẻo” của một người cơ hội và mắc bệnh sĩ.