Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

HOT159- Nói Với TUYẾT

Nói Với TUYẾT

Đêm qua Thu đi quên để lời di chúc
Sáng nay Đông rải quyền hành
            trên lãnh địa bàn giao
Mở cửa ra tuyết đã trắng một màu
Chào em ... Lần ba mươi tái ngộ

Càng về sau em càng thêm rực rỡ
Màu xiêm y vẫn thanh thoát dịu dàng
Đang nhìn ta rất đỗi hiền ngoan
Cứ thế nhé ... suốt thời gian em quyền bính

NhàQuê Dec 17, 2016

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

HTT002- Di Ngôn

DI NGÔN


(Của thầy NGUYỄN VĂN SANG, cựu học sinh Trung Học Kiến Hòa 1958, cựu Gs Trung Học Ba Tri, Trung Học Kiến Hòa lưu lại trên Ipad cá nhân)






~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~.


CHÂN THÀNH CẢM TẠ 


Ngày mai tôi sẽ lìa đời
Lòng tôi tiếc nhất xa người tôi thương

Từ tôi là bướm sân trường
Rộn lòng thương nhớ nhớ vườn xuân thơ
Người tôi thương tuổi khù khờ
Cuối đời mãn nguyện ước mơ được thành, 

Ngày mai tôi cũng cam đành 
Xa thân tộc, xa Chị, Anh, bạn bè
Học trò tôi, xa các em nghe, 
Nhớ Thầy mỗi độ ve hè kêu vang
Ve sầu kêu, nhớ Thầy Sang
Bạn bè ơi ngắm trăng vàng thấy tôi

Bên bờ vĩnh phúc yên vui
Hương sen tỏa nhẹ ngát nơi vô thường 
Đây lời cảm tạ chia buồn 
Đêm nay viết trước dọn đường tôi đi 
Phân ưu thành kính ơn ghi
Tôi người mãn nguyện trước khi lìa trần

Tìm được người yêu trãi lòng 
Nhà Quê, tao cám ơn , mong gặp mầy ! 
Ngọc xa đáy nước rời tay
Tơ mail mầy nối, tao ngày cuối vui
Cám ơn lắm Nhà Quê ơi 
Tình đầu, tình cuối, tao người happy ! 

Vĩnh biệt tất cả 
tôi đi 
Lăn tay, tên ký 
Ba Tri tôi về .

Nguyễn Sang

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

CNĐ005- TRĂNG XẾ

Diep Cao
8 hrs
TRĂNG XẾ 

Cả đời phiêu dạt nơi đất khách.
Trở về uống ngụm nước sông quê.
Nửa khuya thức dậy chờ trăng xế.
Không khóc sao nghe lòng tái tê

Có phải màu trăng da diết sáng.
Soi bóng mẹ ta quét lá vàng.
Gió bấc se se đêm tháng chạp.
Nao buồn lữ thứ lúc xuân sang.

Có phải màu trăng muôn năm trước
Khói sương huyền hoặc phả vai gầy.
Mẹ nhen lửa sớm chờ con dậy.
Đượm nồng hương lá mắt cay cay.

Trăng xế màu trăng đau đau nhớ.
Chút tình như thật lại như mơ.
Như có như không rừng rực cháy
Thầm tiếc không còn rượu để say.

Trăng xế nhạt nhòa rươm rướm lệ 
Thương người bóng lẻ suốt trăm năm.....
Cao Ngọc Điệp Dec 02, 2016

CNĐ004- HOÀI CẢM. Nn

Diep Cao
November 23 at 9:34pm · 


HOÀI CẢM. Nn

Tôi lắng nghe hơi thở của đêm. 
Nhè nhẹ, mênh mang, sâu như nỗi nhớ. 
Lá cô đơn trở mình khe khẽ. 
Con dế chờ ai cao tiếng gáy vu vơ. 

Đom đóm tìm ai mà đom đóm lập lòe 
Dải Ngân Hà đợi ai mà cả đời thao thức 
Ngọn gió chớm yêu lao xao rạo rực. 
Trái bàng mồ côi day dứt rụng bên thềm. 

Không thể nào nguôi , không thể nào yên. 
Nỗi nhớ cồn cào dữ dội hơn con sóng 
Người của ngày hôm qua, người của miền xa thẳm. 
Sợi tình buồn héo hắt tựa gió đông. 

Đêm tháng mười hương quyện chặt hơi sương. 
Đan nỗi nhớ dọc ngang như tơ nhện. 
Góc sân nhỏ tôi ngồi hoài niệm. 
Tiếng ai cười vỡ vụn cả không gian. 

Một chút yêu, chút trống vắng xốn xang 
Chút hoài vọng âm thầm như hơi thở. 
Mãnh liệt nồng nàn dịu dàng đêm trở gió. 
Cánh bằng lăng bay tím cả trời mơ. 

Bến sông xưa phút lắng đọng ơ hờ 
Đêm hoài cảm cố nhân ơi còn nhớ ....

Điệp Cao (Cao Thị Ngọc Điệp 1968)

CNĐ003- TẠM BIỆT HOA CÚC

TẠM BIỆT HOA CÚC 
Hoa cúc vàng, hoa cúc vàng. 
Bên trời gọi bạn rỡ ràng sắc thu. 
Trời xanh, xanh ngắt lời ru
Yêu nhau tình đến thiên thu vẫn còn. 
Dẫu đi cuối biển đầu non. 
Cánh vàng nhỏ lệ cháy hồn đôi ta. 
Tạm biệt người, tạm biệt hoa. 
Nhớ nhau xin hãy gọi là cố nhân

Điệp Cao, Nov 08, 2016

CNĐ002- Độc Thoại.

Diep Cao
November 8 at 7:05pm · 

Độc Thoại. 

Đó là tiếng thì thầm của đôi lứa yêu nhau. 
Tiếng nhịp tim tìm nhịp tim đập vội. 
Lời đã trao nhưng còn nhiều điều chưa nói. 
Trời Long An anh tìm mãi em thôi. 

Vàm Cỏ xuôi dòng chở nặng bùi ngùi. 
Em có ở cuối sông để anh thương anh nhớ 
Đất Miền Hạ là bền duyên nặng nợ 
Anh sẽ về ở bén rễ xanh cây. 

Anh đi tìm em chứ em ở đâu đây. 
Mới chớm thu trời xanh cao vời vợi. 
Nơi cuối ngõ hoa cúc vàng đứng đợi. 
Tiếng đàn kìm chở bao nỗi đắm say. 

Tiếng bỗng trầm dìu dặt khúc tình si. 
Khắc khoải yêu, thanh âm da diết nhớ. 
Dẫu quay lại Hàm Luông mà trong từng hơi thở. .
Khúc giã từ dằn vặt ở bờ môi.

Khúc cảm hoài nghẹn đắng trái tim tôi. 
Nghìn năm nữa, thì thầm, anh vẫn đợi. 

Cao Ngọc Điệp

CNĐ001- Thư Gửi Người Đi Xa

Diep Cao
November 5 at 1:54pm · 

Thư Gửi Người Đi Xa 

Đã lâu rồi không nhận đuợc thư anh 
Thư không đến ? Hay anh không còn nhớ 
Con sóng quê hương miệt mài sóng vỗ 
Tiếng vọng đôi bờ hay thương nhớ mênh mông 

Xa lắc rồi anh còn nhớ không anh 
Một thời quê hương nuôi anh khôn lớn 
Manh áo chén cơm những ân tình chưa trọn
Nắng ấm, hương hoa cũng chan chứa tình người 

Gánh nặng còng vai mẹ vẫn tươi cười 
Tấm bánh nhỏ, quà con chờ trước ngõ 
Đường cày buổi trưa cha chờ cơn gió 
Mỗi bông lúa no tròn bao nhiêu giọt mồ hôi

Tháng tám trời mưa, những tiếng nói không lời. 
Mưa cứ mãi rì rầm đan lưới nhớ 
Giọt mưa, giọt mưa hay đôi mắt nhỏ 
Cứ ngó hoài theo bóng dáng anh xa 

Cây dừa quê hương vẫn xõa tóc mặn mà 
Duyên dáng đứng đợi chờ anh trở lại. 
Anh sẽ về? Anh sẽ đi xa mãi? 
Ôi cơn gió vô tình nhè nhẹ thoáng phôi phai.

Điệp Cao (Cao Thị Ngọc Điệp, Chs/TH BaTri 1968)

LPH009- GỞI HƯƠNG CHO GIÓ

GỞI HƯƠNG CHO GIÓ


( Vài điệp khúc trên nền nhạc nhẹ Bolero. Cảm hứng từ “Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt…” được hâm lại trên TUOITREonline)

+++ooo+++

1-NGUYÊN/ CỰU( NGUYÊN là đầu tiên,CỰU là cũ)

Nếu nói: nguyên thủ tướng X,thì phải hiểu rằng trước ông X, không có ai làm thủ tướng cả, ông là thủ tướng đầu tiên; nếu ông X là thủ tướng thứ 2 ,3,4,n…thì phải gọi là CỰU thủ tướng. Thế nhưng, bất cứ ai về hưu hay chết thì người ta vẫn cứ “thăng” là “nguyên”, dù người đó lúc tại chức, giữ chức vụ , không phải là người đầu tiên. “Thăng” không đúng “ quy trình”,nhưng hơn nửa thế kỷ , không ai thấy ! Lạ thật! (dù trải qua nhiều lần hô hào giữ gìn trong sáng tiếng Việt)

2-NỘI DUNG( NỘI là trong, DUNG là chứa, là phần tổng quát, ví như cái thùng, cái nồi)
Sau 1975, “NỘI DUNG” rất“được mùa”,người ta sử dụng tùy tiện. NỘI DUNG là tổng quát,chứ không phải là phần chi tiết.“Chương trình truyền hình tối nay gồm NHỮNG nội dung chính như sau…”. Nói như vậy là sai ,vì “ NHỮNG nội dung chính” là phần chi tiết.Chương trinh mới là nội dung (vì nó chứa đựng tất cả các tin tức),nên phải nói là: (Nộidung) chương trình gồm có các tin chính 1, 2, 3… mới đúng

Thí dụ minh họa bằng hình tượng cho các cháu tiểu học dễ hiểu: Gọi NỒI (cơm độn) là NỘI DUNG, các thành phần độn là GẠO , KHOAI, BẮP. Ta không thể nào nói:NỒI (cơm độn) gồm có NỒI KHOAI, NỒI GẠO, NỒI BẮP được( vì NỒI chỉ có một cái). Nhưng thực tế là phổ biến nhiều “ nồi” ảo .Tôi nghe một phóng viên tường thuật như sau:“ Sau đây là NỘI DUNG MÔN THI NHẢY CAO nằm trong NỘI DUNG 10 MÔN PHỐI HỢP”.Tổng quát, chi tiết đều là nội dung cả, sao giống như nồi khoai …trong nồi cơm độn ở trên.(phóng viên là người tốt nghiệp khoa báo chí , thầy của họ là thạc sĩ, tiến sĩ đấy).
* NỘI ơi! ở dưới suối vàng, NỘI có nghe con cháu nói không?

3- BỔ TÚC ( BỔ là thêm vào, TÚC là đủ ) 
Chương trình học gồm 8 môn, giảm còn 4 mà gọi là BỔ TÚC. Bổ chỗ nào? Phải nói là TỔN TÚC mới đúng ( làm cho cái đầy đủ hao tổn đi). Lại còn ghép với cái đuôi VĂN HÓA thành hệ BỔ TÚC VĂN HÓA, quá nổ!

4-VĂN HÓA: là phạm trù quá lớn gồm triết học, khoa học, giáo dục, nghệ thuật đạo đức, luân lý, tôn giáo , tâm linh, nằm ngồi ,đi đứng, ăn mặc… là hơi thở dân tộc…Học có mấy môn học mà gọi cái tên quá lớn.
Trong bản lý lịch có mục “trình độ văn hóa” ám chỉ là các cấp học… Vậy những người không biết chữ mà không tham của rơi, chẳng lẽ không có văn hóa sao? Các vị tiến sĩ mà tham nhũng lại có văn hóa ư?. Hiểu văn hóa hẹp như vậy thì làm sao xây dựng một nền văn hóa tốt đẹp. *Mẹ Việt Nam ơi! Cả một đời lam lũ không đi học, nhưng chúng con coi mẹ như các vị Tiên trong truyên cổ, là SIÊU VĂN HÓA mẹ ạ!

5- TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Dường như “ Bổ túc văn hóa “đổi thành “Trung tâm giáo dục thường xuyên”( mỗi quận, huyện chỉ có một trường). Gọi như vậy là sai vì trung tâm thì phải có chi nhánh vệ tinh; không có chi nhánh sao gọi là trung tâm. Gọi hệ nầy là giáo dục thường xuyên, vậy thì giáo dục phổ thông là gián đoạn sao? (Trước đây, học viên hệ bổ túc lãnh đạo các hệ khác, giờ tên gọi đổi rồi, chắc là hết… Ôi cũng là phước lắm rồi! )

6- TÁC PHẨM VĂN HỌC: ( VĂN HỌC là học về cái hay của văn)
Trước 1975, chỉ có một số tác phẩm có giá trị hay có dấu ấn về văn học sử mới gọi là tác phẩm văn học , như một số tác phẩm của TỰ LỰC VĂN ĐÒAN, HIỆN THỰC, THƠ MỚI. … được sử dụng làm tài liệu giảng dạy , hay tham khảo trong nhà trường ( với những tiểu thuyêt của Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Chu Tử, Duyên Anh… bán rất chạy nhưng không phải là tác phẩm văn học). Còn bây giờ thì tác phẩm nào được in ra đều gọi là tác phẩm văn học, kể cả tác phẩm “ rẻ tiền”. Ôi văn chương hạ giới rẻ như bèo!

7- CHUYÊN TU (TU là sửa; CHUYÊN là chỉ có một, riêng biệt, tức chỉ biết rành một môn, một ngành nào đó)
CHUYÊN TU là tu nghiệp về chuyên môn( sửa về chuyên môn ), vì ra trường lâu năm, không tiếp cận được kiến thức, phương pháp mới ,bị lạc hậu nên mới tu nghiệp để nâng cao tay nghề,( học viên đi chuyên tu phải là những người đã tốt nghiệp rồi).Thế nhưng, thực tế thì khác. Đầu vào là tốt nghiệp phổ thông ( hay bổ túc) chứ không hề có chuyên môn . Không CHUYÊN thì lấy gì mà TU, thì ra đây là một hệ đại học đặc biệt ( cử tuyển). Nhưng tại sao lại lấy tên “CHUYÊN TU”( chỉ là tu nghiệp về chuyên môn) đặt tên cho một hệ đại học? Tại vì không rành về từ ngữ. Tại sao ở bộ mà không rành? Tại vì cỗ máy cái: KHOA NGỮ VĂN

8- NGỮ VĂN ( NGỮ là phương tiện ,VĂN là cứu cánh)
Dùng “Ngữ văn “ thay cho môn Việt văn là không thể chấp nhận. Thứ nhất là thiếu tên nước. Tại sao các môn ngoại ngữ có tên nước như môn Anh văn, Pháp văn mà văn học nước nhà sao không gọi là Việt văn( đúng ra là phải bị kỷ luật ); thứ hai là trong VĂN có NGỮ , ( VĂN là do NGỮ ghép lại) Khi gọi tên thì chỉ gọi tên cứu cánh( “VĂN”), chứ ai lại ghép thêm cái phương tiện ( “NGỮ”)vào, kỳ lắm . Thí dụ minh họa cho các cháu nhỏ dễ hiểu: Cái nhà là do gạch, gỗ…tạo nên; nhà là cứu cánh ( vì đã hoàn thành), gạch , gỗ là phương tiện để xây ,chứ không phải là cái nhà .Vì vậy ,khi nói, ta chỉ cần giới thiệu : đây là cái NHÀ (của ông X) là đủ, việc gì phải nói: đây là cái GẠCH GỖ NHÀ (của ông X) .Nếu cháu nào nói như vậy thì chắc hồi nhỏ bị té giếng (nói chơi cho vui thôi, chứ té ao, té sông vẫn đậu thạc sĩ, tiến sĩ. Cười lên đi các cháu! ).

Chế độ cũ gọi là môn văn là Việt văn hay Quốc văn ở bậc trung học, bậc đại học thì gọi là Ban văn chương Việt Nam , Ban văn chương Việt Hán( không hề có Ban ngữ văn)

Nhặt ra những từ “lạ”, kiến thức “lạ” trong NGỮ VĂN không phải là việc dễ dàng, giống như ăn thanh long mà nhả hột vậy, biết bao giờ mới hết một trái, nhất là đối với người rụng răng, sắp chết. Thôi thì ăn một chút cho vui, phần còn lại dành cho các bạn trẻ còn răng: “Của tin còn một chút nầy”…)

Trong FB của PhuongHuong Le

LPH008- PHẬT PHÁP TRONG CHỮ HÁN (TT)

PHẬT PHÁP TRONG CHỮ HÁN(TT)

* Chữ XÚ (臭) là HÔI THÚI, gồm bộ TỰ (自) là do mình và chữ ĐẠI ( 大 )là lớn.Tự mình làm cho mình thành một nhân vật to lớn( ảo), nghĩa là tự phô trương, biến rắn thành rồng, biến gà thành phượng, biến phàm thành Thánh để dụ , lừa, phỉnh, gạt người, hầu mưu đồ sự nghiệp, là HÔI THÚI 

Lẽ ra khi nói đến mùi hôi thúi thì phải dùng chữ THI ( 尸 )(thây, xác chết mới đúng) nhưng Thánh nhân lại chọn chữ ĐẠI . Tại sao? Vì cái hôi thúi của thể xác chỉ lan tỏa trong phạm vi năm mười thước, tồn tại trong một thời gian ngắn,nhưng cái hôi thúi về tinh thần thì vượt không gian,thời gian: “trăm năm bia đá thì mòn/ ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Bọn hôn quân, bạo chúa dù có lăng mộ hoành tráng, dù chết đã lâu nhưng mùi hôi thúi(về tinh thần) của họ vẫn còn . Đây là lời dạy về phép tu thân, còn tu hành thì sao?

T Tu hành là phải diệt trừ ngã mạn. Tự đề cao mình, thì dù có tinh thông kinh sách cũng không thể nào chứng đắc, nếu không muốn nói là sẽ bị đọa. Một trong những lý do mà Phật cấm đệ tử phô trương thần thông là sợ họ ngã mạn( ngã mạn thì chấp ngã; chấp ngã thì vô minh…)Nhân đây, xin tóm lược vài hàng về một câu chuyện thật: Có một vị tu sĩ đạt tới một trình độ nào đó, nên chữa bịnh rất hay bằng cách niệm thần chú, được người đương thời gọi là LA HÁN SỐNG. Một hôm, ông gặp HT. Tuyên Hóa ( lúc còn ở Đại Lục), Ngài nói thẳng với ông rằng nếu còn phô trương thần thông thì trong tương lai sẽ bị đọa,không được làm người xuất gia. Ông nói: “ Nếu tôi bị đọa, xin Ngài cứu độ” 

Quả thật, khi qua Hồng Kông, “ LA HÁN SỐNG” thì trở thành phàm tục ( chắc là mất hết khả năng) . Sau đó, Hòa Thượng độ cho tu trở lại, nhưng chỉ một thời gian rồi cũng bỏ chùa ra đi vì bịnh cũ ( ngã mạn) tái phát ( “Cuộc đời và đạo nghiệp của HT. Tuyên Hóa” trang 299, sách nầy có trên mạng) .

Có lẽ vì vậy mà Thánh nhân mới nhấn mạnh chữ XÚ là phô trương cái tôi cá nhân, cái tôi cá nhân càng “vĩ đại”, thì càng thúi. Riêng kẻ tu hành dù có khai mở chút trí huệ ( thần thông) cũng sẽ bị đọa vào tam đồ, ác đạọ.


*****************************


**Chữ THI ( 詩 ) là thơ, gồm bộ NGÔN (言 )là lời nói và chữ TỰ ( 寺 )là chùa. Đây là thơ ca cổ điển( vì chữ Hán có từ lâu đời). Thật khó mà lý giải.Tuy nhiên, nếu dựa vào chữ TỰ là chùa, là tu hành ,là Phật pháp, ta cũng có thể đưa ra được một vài ý( tất nhiên, chưa hẳn là đúng)

Ta có thể nói rằng, thời xa xưa, các vị Thánh hóa thân làm thi sĩ, dùng nghệ thuật thi ca để hoằng pháp( Xem kinh Phổ Môn, ta thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân vào vô số nhân vật, nhiều thành phần khác nhau trong xã hội ). Đạo Phật cho rằng tình ái là sợi dây trói buộc, khiến cho con người bị chìm trong luân hồi lục đạo; đạo Phật là vô NGÃ, cho rằng chấp NGÃ thì vô minh. Phải chăng vì vậy mà thơ ca cổ điển không bao giờ đề cập đến cái tôi cá nhân , tình yêu đôi lứa như trường phái lãng mạn… 

Có một thực tế rất thật, phần lớn những thi sĩ cổ điển là người ngoại đạo, và thời cận–hiện đại vẫn có những thi sĩ hoài cổ. Tại sao? Con người khi mất đi, thể xác trở về cát bụi, nhưng linh hồn( tâm) vẫn tồn tại và tái sinh. Theo DUY THỨC HỌC, thì tư tưởng, tình cảm, mọi ý niệm … chính là những chủng tử ở trong tâm thức (thức số 8) sẽ đi đầu thai. Khi tái sinh làm người, nó sẽ hiện hành nếu gặp duyên. 

Thuở xa xưa, có lẽ là thời chánh pháp hay tượng pháp nên những người có căn tu tái sinh nhiều( dù kiếp tái sinh nầy không tiếp tục tu, nhưng chửng tử tiền kiếp vẫn còn) nên mới tạo được một dòng thi ca cổ điển(?). Xin trích ra một bài thơ hay nhất của Trương Kế: "PHONG KIỀU DẠ BẠC" (Ông không phải là một nhà sư mà là một vị quan, đỗ tiến sĩ, nhưng bài thơ trên lại in đậm dấu ấn Phật giáo từng chữ, từng câu, từng hình ảnh , từng âm thanh, ánh sáng… Ta có thể nói là tiền kiếp ông là người đã xuất gia):

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại, Hàn San Tự
Dạ bán, chung thanh đáo khách thuyền

********

*Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Tản Đà dịch)

Có một điều lạ là những câu thơ , bài thơ thể hiện tư tưởng Phât giáo thì lại được người đời ngưỡng mộ, như Trương Kế, ông sáng tác rất nhiều nhưng chỉ có bài thơ trên là hay nhất, tạo nên” thương hiệu”để ngồi chung chiếu với những thi sĩ nổi tiếng nhất ở đời Đường; Hồ Dzếnh, một thi sĩ lãng mạn, cũng rung động bởi tình yêu đôi lứa nhưng không dám mạnh dạn bước vào, ông NGẬP NGỪNG, rồi dừng bước: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…”.Không phải ông sợ: “ Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn”, mà vì: “ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”. Tại sao? Có lẽ trong tiền kiếp ông đã hiểu về Phật pháp: Có SINH, TRỤ, tất phải bị DỊ, DIỆT. Nếu tham lam đi đến cuối đường tức sẽ bị hoại, diệt, cái hình ảnh đẹp buồi ban đầu sẽ mất đi. Ông đã thành công khi đem Phật pháp vào tình yêu( tôi chỉ nói cho vui, xin đùng chấp). Và, bài thơ “NGẬP NGỪNG” chính là “thương hiệu độc quyền” của Hồ Dzếnh trong dòng văn học lãng mạn 1932- 1945.Nói đến ông, hầu như ai cũng nhớ: “ Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Và, ngàn năm sau đời vẫn nhắc: Đừng bước vội,hãy ngập ngừng và quay lại, kẻo lỡ chuyến đò ngang về bến giác như thi sĩ xứ trầm hương:

Đời nửa khói mây chìm bóng mộng
Gọi đò một tiếng lạnh hư không
(Quách Tấn)

* Thành phố buồn đã vào đông *

Trong FB PhuongHuong Le