Chùm Thơ Ngắn CÚC HƯƠNG:
Mai về...
*
mai về...nghiêng bóng bên sông
tự mình soi lại đục trong đời mình
tắm hồn trước ánh bình minh
gội sầu vạn cổ...
buông tình trôi xa...
mai về...hỏi lá hỏi hoa
hỏi dòng lục bát ...nhạt nhòa vì đâu
hỏi câu định mệnh thêm sầu
hỏi hoàng hôn...nước qua cầu về không
mai nầy...
nghiêng bóng bên sông
tự mình soi lại đục trong đời mình...
CÚC HƯƠNG, Cần Thơ 29/7/2015
><><><
* * *
bâng khuâng...dưới quán lều che tạm
khách lạ ...
chừng như cũng chạnh lòng
sương lạnh...
gió luồn qua vách lá
đêm dài
canh lạc...nhớ mênh mông...
giọng buồn ca cổ...vương phiền muộn
tiếng nhạn xa sầu chuyện thế nhân
quanh đây...
bao cảnh đời cơ nhỡ
say với trăng thơ được mấy lần...
* * *
cúc nhớ ai...lay động trước thềm
nhẹ nhàng hương tỏa dưới trăng đêm
bâng khuâng ...mấy nhánh sương còn mọng
lặng lẽ đôi cành gió thoảng êm...
ấp ủ hồn thu...tìm giấc ngủ
nâng niu tình mộng ...gối mơ hiền
người ơi...mai có về thăm lại
hoa vẫn ngời duyên những cánh mềm...
><><><><
*
tìm nhau ...đã mấy trăm năm
trăng nghiêng bóng chỗ anh nằm thuở xưa
giọt sương ...hóa đá đêm mơ
bao mùa xanh rụng...vẫn mờ mịt tăm
vết đau này ...tự ngàn năm
giữa dòng tâm thức
âm thầm lãng du...
đầu non mây trắng hững hờ
cố hương xa thẳm
mịt mờ hơi sương...
hiểu ra...
tất cả vô thường
khôn cùng nguồn cội...yêu thương chảy tràn
vô chung ...vô thủy anh nằm
nơi đâu đừng hỏi trăm năm sẽ về
mơ màng muôn kiếp nhiêu khê
mây xa xăm...
chớ hẹn thề đầu non...
*
anh về lại vườn xưa
người đàn ông của đất
xa phồn hoa vật chất
em như gần anh hơn...
những chuỗi ngày lang bạt
đem bón hết cho cây
tiễn quãng đời bụi cát
ta nhìn về tương lai...
một ngày...một ngày yêu
vơi dần nỗi quạnh hiu
vườn thu tràn hương cúc
gió đưa vầng trăng treo...
><><><><
thu này...nhớ lắm thu xưa
bâng khuâng cành lá...ru đưa nhạc buồn
chuông chiều ...vọng tiếng trong sương
thương màu khói quyện chân đường mây xa
mộng đời nửa giấc trôi qua
xuân xanh một thoáng
giờ ta với mình...
ra vào hai mảnh sinh linh
thăng trầm thế thái ...nhân tình thiếu chi...
ngày nào rũ áo ra đi
mong nhau mấy giọt từ ly... lặng thầm
là...tròn chút nghĩa trăm năm
là duyên ân ái...sắt cầm...trả xong!
***
óc tim mòn mỏi rồi ư
dậy thôi....
nửa bóng trăng thu bên cầu...
mỗi dòng thơ ...mỗi lần đau
một ngày xa...một ngày sầu tương tư
thà là trăng... thực thực hư
thà tôi...ghềnh đá sóng dư gió thừa
thà như ngọn trúc gió đùa
hồn nhiên trêu ánh sao thưa lưng trời...
thà như cánh nhạn ngang đời
thét đau xé ruột ...rồi thôi biệt ngàn...
muốn tìm ....một chút bình an
bỗng ôm lấy mảnh trăng vàng đơn côi
vì sao lặng lẽ trăng ơi...
vì sao
nửa bóng chơi vơi bên cầu....
***
hỏi gì...
*
nhánh sương ...ôm vạt cỏ mềm
chiều đi nhè nhẹ qua thềm thu xưa
vườn ai ...
giọt nắng đung đưa
lòng ai ...
vàng võ mấy mùa thơ xa
dáng ai ...
nghiêng dưới dương tà
vần ai run rẩy...
rơi là đà rơi...
lá buông úa mảng tơ trời
đâu đây ..chuông vọng bên đời hư không
có người...đứng trước mênh mông
hỏi gì ...
mắt ướt vời trông cuối ngàn...
****
mấy nhịp trần ơi...
*
nhịp triều...lên xuống đầy vơi
nhịp lòng...theo sóng xa khơi nổi chìm
trùng dương ôm một bóng thuyền
bến bờ thăm thẳm
trắng miền yêu xưa...
hoàng hôn ...
xuống tự bao giờ
lặng nhìn bóng nước dật dờ...miên man
thương đôi chim vỗ không gian
thương mây phiêu dạt
bẽ bàng...
đơn côi...
nhịp triều...lên xuống đầy vơi
nhịp lòng theo sóng...
xa khơi...
nổi chìm...
***
có người...
*
có người... nhặt nắng rơi chiều
để dành ủ ấm đìu hiu cuối ngày...
một phần ...gửi nắng theo mây
sưởi lòng người ấy... dạn dày phong sương
có người...
không nhớ không thương
vì sao...
buồn dõi trắng đường chim xa
có người ...bình thản như là
vì sao... lục bát nhạt nhòa thơ đau
là thế đó...
chẳng vì sao
có người vẫn hỏi
về đâu bóng đời...
***
chẳng hiểu vì sao
*
cửa đông mở đuổi buồn bay
cửa tây...buồn lẻn theo mây buồn vào
hỏi lòng...chẳng hiểu vì sao
nắng chiều mấy sợi nhạt màu vô tâm...
đa đoan...đi nốt cuộc trần
sóng phù du dạt bến trầm bến mê...
trăm năm...chỉ một lối về
thương mình chiếc bóng sơn khê đầu ghềnh...
quên rồi nhớ...nhớ rồi quên
rủ nhau cuồn cuộn sầu lên mắt sầu...
hỏi lòng...
chẳng hiểu vì sao
nắng chiều mấy sợi
nhạt màu vô tâm....
***
lòng cát
*
mưa qua bờ cát trôi đi
cát theo về biển
nghĩ gì cát ơi...
thầm thì...cát dõi ngoài khơi
thương con sóng nhỏ ...chơi vơi tìm bờ
cát thương biển...lúc sương mờ
bạc đầu sóng hỡi... đợi chờ ai đây
biển chiều như tỉnh như say
với hôn những ánh sao gầy xa xăm...
cát thương biển... lúc lặng thầm
lúc gào xé ruột...cát nằm rưng rưng
buồn vui...không biết bao lần
lặng nghe lòng biển
ngập ngừng cát trôi...
than ôi...cát phải đi rồi
nước buồn đem cát dập vùi...vì đâu
nơi xa...
cát vẫn âu sầu
vẫn thương lòng biển
dạt dào...
miên man...
***
nhạt nhòa...
*
hoa gầy...ôm dấu chim xa
lặng thầm lòng nước
nhạt nhòa duyên mây...
buồn...như lãng đãng về đây
vì đâu ngọn gió cuối ngày cát bay...
liêu xiêu nửa mảnh trăng gầy
bóng nhàn nhạt vói..ngàn mây lưng đồi
tôi tìm gì nữa...xa xôi
thời gian...người ấy quên rồi vườn thu
lối xưa...giờ cũng mịt mù
trăng xưa...giờ tự buồn ru nửa vầng
có gì trằn trọc giấc nồng
trở mình ...mới biết sầu mông mênh là...
hoa gầy...ôm dấu chim xa
lặng thầm lòng nước
nhạt nhòa duyên mây...
***
e là...
*
muốn chôn nhau ...tận đáy lòng
e là lục bát đứng dòng không xuôi...
muốn thiêu rụi ...chút tình côi
e là bướm mộng buồn tôi không về...
làm sao ...với mảnh trăng thề
làm sao...với những não nề tình ơi...
tình rằng nước chảy bèo trôi
buông thì tê tái
ôm ôi...cũng rầu
bốn mùa...là bốn sắc màu
thôi thì...đem bán cái sầu mua vui
có ai ...mua giúp dùm tôi
hoa xuân ngời nét tinh khôi nhé người
hay là...phượng đỏ rực trời
mơ màng lơi lả mấy lời ve êm
hay là... thu lá rơi thềm
vườn hoa cúc tỏa hương mềm như mơ
hay là...rét buốt như tờ
đông sang trụi lá...hững hờ trăng trôi
có ai...
mua giúp dùm tôi
bốn mùa là bốn sắc đời...
thơ duyên...
***
khóc đi tôi ơi...
*
cánh cò bình thản làm sao...
người sau, trước một con trâu đi cày...
dân quê tôi vẫn miệt mài
mồ hôi đổi bát cơm đầy bình yên...
tôi...mùa chữ nghĩa lem nhem
gieo nhầm hạt giống sượng đen xuống đồng
lao đao...trí nảo quay vòng
mơ hồ...
không có...có không chẳng tường
giờ thêm ... trĩu nặng sầu tương
mỉa mai ơi
ngẫm mình thương phận mình...
mái ngoài...mấy giọt lung linh
tưởng nhầm đá quý nguyên sinh đất trời...
gió đưa nhẹ... nước rơi rồi...
tôi như xé ruột...ngậm ngùi đau hơn
có không...
không có chẳng tường
mỉa mai ơi...
ngẫm mình thương phận mình...
CÚC HƯƠNG (Nguyễn Ngọc Thúy, Cần Thơ)
Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015
HOT137- Nói Với Mùa HẠ
Nói Với Mùa Hạ
Bây giờ bên ấy nóng quanh năm
Xưa lúc nực giông mới thấy hầm
Ngột ngạt nay len từng kẽ lá
Người xa chỉ biết xẻ chia thầm
Chào em đến sớm Hè Đông Bắc
Đã dặn dò Xuân tặng hết hoa
Để lá xanh cành ... muôn nụ điểm
Chiều nghiêng đổ bóng thật hiền hòa
Rót xuống nhân gian chén rượu nồng
Tân khoa tung mũ rợp tầng không
Rạng ngời mơ ước ngày vào cuộc
Vườn lại thêm hoa ... những cánh hồng
Chuẩn bị cho Hè cả tháng qua
Từ quê di trú trở thành nhà
Đông Tây Nam Bắc dù muôn dặm
Thông lệ xum vầy con cháu xa
Mỗi khi tưởng nhớ về Hè cũ
Khi phượng đầu mùa lác đác bông
Từ giã thị thành đâu hứa hẹn
Khai trường có trở lại hay không
Tuổi trẻ thời ta như thế đó
Giữa hai lằn đạn vãi vào nhau
Đêm nằm ngủ cạnh bên hầm trú
Con chữ thấm vô đã nát nhầu
Nên Hạ riêng ta đủ dáng hình
Có khi rạng rỡ ánh bình minh
Cũng từng u ám mây che khuất
Cuối cuộc đâu ngờ Hạ rất xinh
NhàQuê May 12, 2015
Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015
HOT136- Giao Mùa Thức Giấc

Giao Mùa Thức Giấc
Bỗng nhiên tỏa sáng một niềm vui
Từ độ chia xa những ngậm ngùi
Bước khỏi cổng trường chôn cả nghiệp
Lúc đời tưởng rực ánh vàng tươi
Ba chìm bảy nổi bốn mươi năm
Giấu kín niềm đau nén giọt thầm
Cố vượt trùng trùng bao khổ ải
Soi đời mới hiểu lẽ huyền thâm
Lấy đó làm vui mỗi một mùa
Thay màu áo mới đứng se sua
Trên xe vãng khách ngồi chiêm thưởng
Khúc nhạc giao hòa thảnh thót đưa
Suốt cả tuần nay đất trổ hoa
Xuân ơi em lại đến rồi à
Vàng kia rực rỡ đang cười chím
Dưng bỗng thấy ngày thật thướt tha
Qua bao thập kỷ vẫn còn nơi
Xuân chỉ dành riêng một lớp người
Tuyệt đại trong vòng vây ảo tưởng
Bốn mùa ý niệm trở xa xôi
Trời đất vào xuân rồi đó hỡi
Mở từng cánh cửa đón thiều quang
Mấy tầng khóa chặt âm u lắm
Ánh sáng đâu riêng lại rịt ràng
Tiến sĩ ... chào ông phó giáo sư
Thương sao phải gọt lại ngôn từ
À à luận án ai làm vậy
Quang hiển con đường thế đó ư
Mắc cỡ giùm cho đến lúc nào
Rơi ùm xuống vực nói làm sao
Hay là muốn được tên ghi sử
Vẹt két mà men ngõ phượng vào
NhàQuê Apr 21, 2015
Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015
TEU- Cây Lạ
Mai
Nhìn qua cứ nghĩ nó là xoài
Thực tế làm sao đoán được mai
Bởi lá to bè đâu phải kiểng
Mà thân nhỏ xíu giống bonsai
Năm châu bốn biển đây duy nhất
Tứ hướng mười phương khó kiếm hai
Lấy hột từ đâu sanh quí thế
Vườn nhà độc đáo ... dễ gì ai
NhàQuê Mar 22, 2015
Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015
TEU183- Nói Với TUYẾT
Miền NAM
Nói Với Tuyết
Cuối mùa em vẫn còn sung
Sáng vừa mở mắt lung tung cả rồi
Cháu con ta sợ quá trời
Về Nam ẩn náu tưởng rời được em
Lạ thay ấy vẫn còn thèm
Đừng vì ở chỗ khen em nõn nà
Lấy lề ... làm tới đó nha
Mười lần chưa đủ sao mà chưa đi
Hỏi em ...em muốn cái gì
Đem mền trùm kín lâm ly thế nầy
Bớ Xuân mau hãy tới ngay
NhàQuê Mar 05, 2015
Cuối mùa em vẫn còn sung
Sáng vừa mở mắt lung tung cả rồi
Cháu con ta sợ quá trời
Về Nam ẩn náu tưởng rời được em
Lạ thay ấy vẫn còn thèm
Đừng vì ở chỗ khen em nõn nà
Lấy lề ... làm tới đó nha
Mười lần chưa đủ sao mà chưa đi
Hỏi em ...em muốn cái gì
Đem mền trùm kín lâm ly thế nầy
Bớ Xuân mau hãy tới ngay
NhàQuê Mar 05, 2015
Miền ĐÔNG BẮC
Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015
LPH01- TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA
Thay lời giới thiệu:
Lê Phương Hướng
Gởi về các em cựu học sinh Trường Trung Học Ba Tri, tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), thế hệ U.60, đồng nghiệp và phụ huynh đã cưu mang tôi trong thời gian mà “ai chưa qua chưa phải là người”
• Tôi mới tập đánh máy nên dễ bị lỗi kỹ thuật,trí bị lão hóa nên chỉ còn nhớ nghĩa mà quên chữ, xin các bạn từ bi hỷ xả ,xin cảm ơn!
TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA
*PHẦN THỨ NHẤT: KHÁI QUÁT*
*PHẦN THỨ NHẤT: KHÁI QUÁT*
Đạo Phật, nếu tóm lại một chữ, đó là chữ NHƯ (1); nếu hai chữ, đó là TỪ BI (“Phật chỉ có lòng TỪ BI chứ không có tâm gì khác ” – Hòa thượng Thích Trí Tịnh ghi lại lời của Phật - “Hương sen Vạn Đức”- trang 60 )
TỪ BI là tâm Phật, tức CHÂN TÁNH, nhất nguyên, nên không thể dùng ngôn ngữ nhị nguyên để lý giải, “Đạo khả đạo phi thường Đạo”. Tuy nhiên, qua kinh sách cũng như cuộc đời và đạo nghiệp của các vị chân tu, ta cũng có thể lĩnh hội được phần nào ý nghĩa và sự nhiệm mầu của TỪ BI trong đạo Phật.
1) TỪ BI CỦA THẾ GIAN: Do căn tính khác nhau mà TỪ BI của thế gian khác với TỪ BI của Phật. TỪ BI của con người là lòng thương xót, cứu giúp người đau khổ, hoạn nạn, nhưng ít nhiều còn vướng vào đối tượng (như phải là nghèo, hiền, đáng thương, chứ không cứu giúp kẻ gian ác…); vướng vào tham vi tế như mong cầu phước đức…Và khả năng con người có giới hạn, chỉ giúp đỡ trong một thời gian nhất định mà thôi .
2)TỪ BI CỦA PHẬT: là lòng xót thương vô hạn, cứu độ tất cả chúng sinh, không phân biệt, không còn thấy người cho, kẻ nhận. Và đặc biệt là giải thoát chúng sinh ra khỏi luân hồi lục đạo, về các cõi giới tốt đẹp để sớm thành Phật đạo.
TỪ BI của thế gian ví như những dòng sông nhỏ, có lúc đầy, lúc vơi, có khi khô kiệt, TỪ BI của Phật giống như biển cả mênh mông. Biển có bao giờ vơi !
A. TỪ BI LÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHẬT VÀ BỒ TÁT
TỪ BI chính là BỒ ĐỀ TÂM. Hòa thượng Tuyên Hóa giảng: “BỒ ĐỀ TÂM có ba nghĩa: một là CHÂN TÁNH BỒ ĐỀ, tức PHẬT TÁNH; hai là THẬT TRÍ BỒ ĐỀ, tức TRÍ HUỆ BỒ ĐỀ; ba là PHƯƠNG TIỆN BỒ ĐỀ, tức phương tiện của những người sau khi chứng đắc, họ quan sát căn cơ, nghiệp lực của chúng sinh mà tìm phương cách thích hợp để giáo hóa (ba dạng BỒ ĐỀ chỉ là một)”(2).PHƯƠNG TIỆN BỒ ĐỀ là TỪ BI.
Ngay sau khi chứng đắc, Đức Phật Thích Ca liền khởi sự nghiệp TỪ BI để cứu độ chúng sinh. Bốn mươi chín năm ròng rã thuyết pháp, giúp chúng sinh vượt qua sông mê, bể khổ, trở về cố hương để tìm lại BẢN LAI DIỆN MỤC. Đức Phật A DI ĐÀ với bốn mưoi tám nguyện độ giúp chúng sinh về thế giới của Ngài, chấm dứt luân hồi sinh tử và tiếp tục tu hành cho đến khi thành Phật . Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện :
Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật
Chúng sinh độ tận, phương chứng BỒ ĐỀ
Hòa thượng Tuyên Hóa phát mười tám đại nguyện . Từ nguyện thứ nhất đến thứ chín, Ngài nguyện rằng nếu có vị từ hàng Bồ Tát cho đến địa ngục chưa thành Phật thì Ngài không thủ Chính Giác.
Địa ngục có bao giờ trống không, chúng sinh làm sao thành Phật hết, vì vậy sự nghiệp của Phật và Bồ Tát là đời đời, kiếp kiếp. Xét về mặt Lý thì Phật và Bồ Tát ở trong tâm ta, về mặt Sự thì các Ngài phân thân, ứng, hóa thân để độ khắp chúng sinh:
…Bạch hào uyển chuyển năm TU DI
Mắt biếc lắng trong bốn biển lớn
Vô số hóa Phật trong hào quang
Chúng hóa Bồ Tát cũng vô biên
Quan Thế Âm Bồ Tát tùy duyên, tùy thời mà ứng, hóa ra nhiều hình tướng (hữu hình và vô hình) như làm thân Phật, Thanh Văn, trời, người, A Tu La…
HT.Tuyên Hóa có lời nguyện thứ 13: “Nguyện phân chia tánh linh của con thành vô số nhập rộng khắp tâm chúng sinh nào không tin Phật pháp, làm cho họ đổi ác thành thiện, hối lỗi, ăn năn, làm một người mới biết quy y Tam Bảo, rốt ráo thành Phật ”.Và, Hòa thượng đã thành tựu ngay trong cuộc đời này. Trong tác phẩm “CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA”,Hòa Thượng đã hóa thân ra nhiều nhân vật để độ người . Xin tóm lược một câu chuyện kể ở trang 234 . Buổi sáng ,Hòa thượng bảo đệ tử rằng hôm nay, có một chú bé đến xin xuất gia, khi nào chú đến nhớ cho Ngài hay… 1giờ trưa, chú đến… Hòa thượng hỏi : “Tại sao chú muốn xuất gia ?” Chú đáp: “Nhà con ở cách xa nơi đây hơn1000 dặm, có một lúc con nằm mơ ba lần liên tiếp, đều mơ thấy có ông Hòa thượng mập, ổng nói nếu con muốn hết bịnh thì phải đến chùa Tam Duyên tìm thầy AnTừ, bái thầy làm sư phụ, xuất gia tu hành, tức sẽ hết bịnh ”. Hòa thượng nói với chú rằng ở đây không có thầy AnTừ (tên của HT.Tuyên Hóa ), chú quả quyết nói: “ Không thể có chuyện đó được, vừa bước vào chùa là con đã thấy có ông Hòa thượng mập …Chính ổng đã báo mộng cho con ba lần, bảo tới đây xuất gia mà”.
Ta Bà là cõi phàm thánh đồng cư, nên Phật và Bồ Tát luôn hiện hữu. Các Ngài hóa thân rất đa dạng: có khi đóng vai Đại sư như Ngài Vĩnh Minh là Đức Phật A Di Đà (3), Đại sư Ấn Quang là Đại Thế Chí Bồ Tát (4) ,HT.Tuyên Hóa là Bồ Tát (5)…;có khi nhập vai những nhân vật thế tục như học giả, cư sĩ, triết gia, nghệ sĩ, bác sĩ, nhà doanh nhiệp... Chúng ta không phải là Phật nên không thể nào biết được Bồ Tát tái sinh, nhưng do lòng tôn kính, ngưỡng mộ một số vị nào đó mà gọi họ là Bồ Tát như bác sĩ Quách Huệ Trân, một vị bác sĩ xả thân vì nghề nghiệp và Đạo Pháp, khó mà tìm ra một vị lương y thứ hai trên cõi đời này: cô không quan tâm đến hạnh phúc cho riêng mình, dù tuổi đời còn trẻ (như chuyện chồng con ), không quan tâm đến sức khỏe bản thân (bịnh nan y mà không biết ), vì lúc nào cũng nghĩ tới bệnh nhân và nhiều lần rơi lệ trước nỗi khổ đau của kiếp người !. Cô đã đem Phật Pháp đến cho họ rất đúng lúc (tức là khi mà người ta đã hiểu được lời Phật dạy“ sinh, bịnh, lão, tử là khổ”. Khi xuất gia, Ngài đã đem những câu chuyện thật, người thật kết thành một bài Pháp làm rung động lòng người, bài Pháp đó đã ngân lên thành“ LẮNG NGHE TIẾNG HÁT SÔNG HẰNG” như gởi cho đời một thông điệp về y đức, về phương pháp trị bịnh, phải kết hợp giữa y học và Phật Pháp. Y học trị được phần ngọn, Phật Pháp cứu được phần gốc, chuyển hóa được tâm thức, tâm thanh tịnh thì thân không bịnh. Ăn chay, làm việc thiện, niêm Phật, “Niệm Phật chuyển hóa được tế bào ung thư”…Bồ Tát là ai? Là người xả thân vì ĐạoPháp. Đơn giản vậy thôi, nhưng chỉ có Bồ Tát mới làm được .
Và,có khi Bồ Tát lại hóa thân thành những nhân vật mà ta không thể ngờ tới như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nhập vai người hành khất, tên là Văn Cát cứu giúp cho HT. Hư Vân (khi Ngài BÁI HƯƠNG, tam bộ nhất bái với hành trình hơn 3000 km) như nấu ăn, giặt giũ, mang hành lý (Ngài Hư Vân không hế hay biết, người hành khất kia là Bồ Tát) (6).
Với sự ứng hóa đa dạng của Bồ Tát, chúng ta có thể nghĩ rằng trong đời mình cũng có đôi lần gặp Bồ Tát mà mình đâu có biết. Biết đâu bà lão ăn xin tật nguyền kia cũng là Bồ Tát, bà đến để khai mở dòng suối từ bi cho ta, nhưng ta đã lạnh lùng !
Bồ Tát hiện hữu là để giáo hóa, nhưng cũng sẵn sàng gánh nghiệp thay cho chúng sinh. Và, đây là phát nguyện thứ 14 của HT. Tuyên Hóa:“ Nguyện đem tất cả khổ nạn của chúng sinh trong Pháp Giới, đều để một mình con thay thế nhận chịu ”. Có một vị Tỳ Kheo ni bị bịnh nặng, ói mửa không ngớt. Cô rất tin tưởng vào Hòa Thượng , nên lễ lạy trước bức hình của Ngài để cầu nguyện, cô liền hết bịnh. Sáng hôm sau, cô đến chính điện, nơi Hòa thượng đang truyền tam quy, ngũ giới .Sau khi tan lễ, Ngài quay về phía cô nói : “Sáng nay thật là khó chịu cho tôi, vì tối hôm qua, tôi đột nhiên bị bịnh nặng, ói mửa suốt đêm”. Vị Tỳ Kheo đó biết rất rõ Hòa thượng đã gánh lấy sự đau khổ cho mình (7).
HT.Hư Vân (thầy của HT. Tuyên Hóa )có thần thông quảng đại, đã làm những việc mà con người không bao làm được, thế nhưng Ngài lại trải qua 48 biến cố và 10 đại nạn. Xin lược trích một đại nạn cuối cùng vào năm 1951. Ngày 3 tháng 3, ÂL, hơn 10 người lực lưỡng dùng gậy, côn sắt đánh Sư, gây thương tích trầm trọng, Sư bị lỗ đầu ,chảy máu, gãy xương sườn nhưng vẫn nhắm mắt, làm thinh như đang nhập định. Hai ngày sau, nghe tin Sư chưa chết, chúng bèn xông vào thất, đánh một lần nữa, tàn bạo hơn lần trước…Tai, mắt, mũi, miệng đều xuất huyết… Chúng bỏ đi vì nghĩ rằng Sư đã chết. Vài ngày sau, hay tin Ngài vẫn còn sống, chúng bắt đầu dao động. Một tên có vẻ là thủ lãnh hỏi các vị tăng. Đệ tử của Ngài đáp: “Hòa thượng vì chúng sinh mà chịu khổ, do không muốn các ông bị nạn nên Ngài cam bị đánh đập mà không chết . Sau này, các ông sẽ hiểu”(8). Không biết bọn chúng có hiểu không ,chứ Phật tử chúng ta ai cũng hiểu rằng chúng sinh khổ nạn là do nghiệp, Bồ Tát khổ nạn là vì gánh nghiệp thay cho chúng sinh.
Vì sự nghiệp TỪ BI mà Bồ Tát giáo hóa, gánh nghiệp cho chúng sinh. Tâm TỪ BI của Bồ Tát ví như ánh trăng vàng. Bất cứ nơi đâu, bất người nào, dù thiện hay ác, đều cảm nhận được màu vàng huyền diệu của TỪ BI …
LPH02- TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA
B - TỪ BI VÀ TRÍ HUỆ
-KHÁI QUÁT VỀ TRÍ HUỆ (9)
Chữ TRÍ gồm có chữ TRI (là biết) và bộ NHẬT (là mặt trời), nghĩa là nhờ ánh sáng mặt trời mà biết, cái biết bên ngoài, thuộc thế giới tự nhiên, tức biết về hiện tượng
Chữ HUỆ gồm chữ TUỆ (là cái chổi ) và bộ TÂM (thuộc về tình cảm, tâm linh), nghĩa là nếu dùng chổi quét bụi trong tâm thì tâm sẽ sáng; tâm sáng tức là thấy ở bên trong, thấy được bản chất của sự việc. Bụi trong tâm chính là tham, sân, si…Tham, sân, si …không những do ta tạo ra ở kiếp này mà cả kiếp trước còn tồn tại. Châu-lợi- bàn-đà- già( trong Kinh A Di Đà) là người đần độn, được sự trợ giúp của 500 vị A-la-hán, nhưng sau 100 ngày vẫn không thuộc được bài kệ, chẳng nhớ được chữ nào…Đức Phật giải thích rõ về lý đần độn của ông là ích kỷ (một tên gọi khác của tham, sân, si). Trong một đời trước, ông là một pháp sư tinh thông Tam Tạng, có 500 đệ tử, ngày nào họ cũng muốn học với ông nhưng ông không muốn dạy…,họ quỳ trước ông ba ngày, ba đêm mà ông vẫn không nói cho họ một lời…nên ông phải chịu quả báo… Nghe xong ông cảm thấy xấu hổ, tự trách mình…Đức Phật liền cầm cái chổi giơ lên và hỏi:
- Ông biết cái gì đây không ?
- Thưa ,cái chổi.
- Ông có nhớ được không ?
- Thưa, nhớ được.
Rồi Đức Phật dạy ông:
-Hãy lặp lại suốt ngày: “chổi, chổi, chổi”.
Ông học thuộc sau vài tuần, Đức Phật đổi các chữ ấy thành“quét sạch, quét sạch, quét sạch”. Nhờ cái chổi vô hình mà Đức Phật đã cho ông, với sự thành tâm sám hối, cố gắng, nổ lực mà ông quét sạch được tâm ông .Và, ông đã khai ngộ (10)
Chúng ta tại sao không khai ngộ? là vì chúng ta chỉ lo TẮM cái thân mà không bao giờ chịu RỬA cái tâm, nên tâm đầy bụi . TRÍ HUỆ ví như tấm kiếng; nếu như kiếng đầy bụi thì sẽ bị mờ, làm sao nhìn thấy được. TRÍ dù có sáng suốt, thông minh , dù là nhà khoa học, bác học mà không có HUỆ thì vẫn là vô minh. Ngược lai, nếu không biết chữ mà có HUỆ thì vẫn biết được bản chất của sự vật, biết những gì mà khoa học không thể biết, làm những gì mà khoa học không làm được như Lục tổ Huệ Năng, Hòa thượng Quảng Khâm…
1 - TỪ BI SINH RA TRÍ HUỆ
- Xin Hòa thượng chỉ dạy cho chúng con khai ngộ được tri kiến Phật (ĐẠI TRÍ HUỆ), một Phật tử hỏi HT.Tuyên Hóa. Ngài đáp:
- Kiến ngộ Phật tức hiểu rõ làm sao để thành Phật và có TRÍ HUỆ Phật, chớ không có chi là huyền bí cả. Học theo Phật, thực hành Tứ Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỷ, xả… (11)
- Con hy vọng được nghe Hòa thượng giảng thêm về đề mục “phát khởi TRÍ HUỆ nội tâm”,một Phật tử khác hỏi, Hòa thượng trả lời :
-TRÍ HUỆ là phải tự mình khai thác. Không nên làm các chuyện ác, hãy làm các việc lành, trước hết là nên phát khởi từ đây(12)
Tại sao muốn khai mở TRÍ HUỆ thì phải thực hành TỪ BI, làm các việc thiện? Vì TỪ BI là đối trị, khắc chế được tham, sân, si, quét được bụi ở tâm nên tâm sáng, tức có TRÍ HUỆ. Và với tâm TỪ BI, hay làm những việc thiện thì tham, sân, si không bám vào tâm được
Như vậy, muốn có TRÍ HUỆ thì phải có tâm TỪ BI, nhưng TỪ BI có SANH ra TRÍ HUỆ ? Thực ra,TỪ BI và TRÍ HUỆ cùng lưu xuất, cùng đồng hành ngay tức khắc (đây là TỪ BI và TRÍ HUỆ Phật, chứ không phải của thế gian vì từ bi và trí huệ của con người là do tâm sai biệt nên không đồng hành. Vì vậy ,câu nói “ từ bi phải có trí huệ” là nhắc nhở những người mới tu hành rằng làm việc thiện cần phải có sự soi sáng của lý trí để làm đúng mục đích và tránh bị lợi dụng )
2- TỪ BI VÀ TRÍ HUỆ ĐỒNG LƯU XUẤT
Vô Trước tu trên núi 12 năm, quán tưởng Đức DI LẶC mà không thấy, thất vọng bèn rời khỏi hang động . Vừa ra khỏi động, Ngài thấy một con chó ghẻ đầy mình, dòi bọ nhung nhúc, đang hấp hối. Quá xúc động ,Ngài cúi xuống nhặt những con dòi ra để cứu con chó. Bỗng nhiên con chó biến mất ,Đức DI LẶC hiện ra. Ngài VÔ TRƯỚC thưa :
“Tại sao suốt 12 năm qua, con không thấy Ngài…” Đức DI LẶC đáp : “Ta vẫn ở bên con, nhưng vì TRÍ HUỆ con chưa khai mở…”. Con chó đáng thương kia tác động vào tâm thức Ngài Vô Trước làm hiển lộ tâm TỪ BI,và khi tâmTỪ BI lưu xuất thì TRÍ HUỆ liền khai mở nên có được thần thông, Ngài đã thấy Đức Di Lặc. Như vậy TỪ BI và TRÍ HUỆ đồng lưu xuất.
3- TỪ BI LÀ TRÍ HUỆ
Nói TỪ BI sinh ra TRÍ HUỆ, hay đồng lưu xuất tức là nói theo ngôn ngữ nhị nguyên, nghĩa là có hai thành phần, thực ra chỉ là một (một trong tất cả, tất cả là một), nênTỪ BI là TRÍ HUỆ; TRÍ HUỆ là TỪ BI. Bất nhị là lý nhất quán của Phật giáo, giống như Âm, Dương trong KINH DỊCH: “nhất Âm , nhất Dương chi vị Đạo”. Âm, Dương không thể rời nhau: động thì gọi là Dương, tịnh thì gọi là Âm. TỪ BI và TRÍ HUỆ cũng vậy. TỰ TÁNH thì tròn đầy, tĩnh lặng, sáng suốt, bao trùm…đó là ĐẠI TRÍ HUỆ (thể tịnh); khi duyên khởi (thể động) để cứu độ chúng sinh thì gọi là TỪ BI (tên gọi chỉ là giả danh vì cả hai chỉ là một, đó là PHẬT TÁNH Hay TỰ TÁNH ). TRÍ HUỆ duyên khởi là HÀO QUANG; HÀO QUANG hóa ra vô số Phật và Bồ Tát để độ chúng sinh, tức TỪ BI :
Vô số hóa Phật trong HÀO QUANG
Chúng hóa Bồ Tát cũng vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bến giác
Giáo sư Nguyễn Duy Cần giải thích: “TRÍ HUỆ do TỪ BI mà có, cũng như TỪ BI do TRÍ HUỆ mà sinh, không tách rời nhau được. Hay nói một cách khác: TỪ BI mà không do TRÍ HUỆ phát sinh, không phải là TỪ BI; cũng như TRÍ HUỆ mà không phải là TRÍ HUỆ của lòng TỪ BI phát sinh, chưa phải là TRÍ HUỆ …” (13)
C- TỪ BI và GIỚI :
“ GIỚI là cội gốc của Bồ Đề Vô Thượng” ( Hòa thượng Hư Vân) (14). Như vậy, GIỚI cũng lưu xuất trong TỰ TÁNH. Làm sao nhận biết được? Hòa thượng Tuyên Hóa nói:“ những điều do học hỏi mà biết được thì không phải là của chúng ta. Tâm Bồ Đề phải tự chúng ta phát. “…Một ngày nọ, nhân thấy người hàng xóm đi bắt chim dồng dộc còn đang sống ,đem về nhổ lông rồi nướng ăn. Nhìn sự đau đớn của con vật trước khi chết ,trong lòng Hòa thượng Trí Tịnh xót thương vô cùng. Từ đó, phát tâm ăn chay trường”(Hương senVạn Đức trang 9). Hòa thượng lúc bấy giờ mới có 10 tuổi, chưa có ý thức, thế nhưng Ngài quyết định ăn chay (tức giới sát ), chứng tỏ việc ăn chay phát xuất từ TỰ TÁNH. Nguyên nhân nào khiến Ngài ăn chay? Do lòngTỪ BI. Vậy GIỚI và TỪ BI là một. GIỚI và TỪ BI đồng lưu xuất (không cần giáo hóa, học hỏi), đây là dấu hiệu của người có thiện căn, những vị chân tu, chắc chắn họ sẽ thành tựu trên bước đường tu tập. Thật vậy, một Phật tử có đứa con cũng ăn chay giống như Hòa thượng Thích Trí Tịnh ngày xưa, hỏi Hòa thượng Tuyên Hoá :
Hỏi - : Đệ tử có đứa con 5 tuổi, năm ngoái nhìn thấy người bán gà giết gà thì nó òa khóc và phát nguyện rằng vĩnh viễn sẽ không ăn thịt chúng sanh, cho tới nay nó vẫn giữ lời, không hề thay đổi .Xin Hòa thượng chỉ dạy, đệ tử phải làm sao để giúp đứa con này tăng trưởng huệ căn, A Di Đà Phật!…
Đáp - : Cháu bé không ăn thịt chúng sinh thì nó không phải làm chúng sinh đó !
Câu trả của Hòa thượng rất sâu sắc : không phải làm chúng sinh tức là thành Phật. TỪ BI và GIỚI lưu xuất từ trong TỰ TÁNH rất sớm, tâm Bồ Đề đã tự phát, huệ căn sẽ tăng trưởng tự nhiên…( vì vậy mà Ngài không trả lời trực tiếp, chỉ gợi cho đệ tử mà thôi ). Chỉ có những bậc thiện căn sâu dày thì TỪ BI, GIỚI mới lưu xuất dễ dàng, còn chúng ta thì phải nổ lực hành trì, tác động bên ngoài để khai mở bên trong. TỪ BI sẵn có trong tâm ví như suối nước, bị lớp sỏi đá tham, sân, si…ngăn cản. Nếu ta làm một vài việc thiện thì nước trong suối TỪ BI đó sẽ ngấm qua lỗ mội, nếu tiếp tục làm việc thiện thì lỗ mội sẽ thành khe hở, lâu ngày khe hở thành khe nước lớn để suối TỪ BI lưu xuất dễ dàng. Hành trì GIỚI cũng vậy, mà niệm Phật cũng vậy (niệm Phật bên ngoài để làm hiển lộ Phật trong tâm)
Về mặt Sự thì GIỚI sinh ra ĐỊNH, ĐỊNH sinh ra HUỆ; về mặt LÝ thì GIỚI là ĐỊNH ,là HUỆ, Là TỪ BI…(một trong tất cả). Chúng ta phải nhờ SỰ để đạt LÝ nên GIỚI vô cùng quan trọng.Đức Phật dạy rằng sau khi Ngài nhập diệt, chúng ta phải lấy GIỚI làm THẦY.
D- TẤT CẢ CHÚNG SINH ĐỀU CÓ TÂM TỪ BI
Loài người thường tự hào về sự thông minh của mình, nhưng lại dùng cái trí thông minh đó để sát hại động vật, thay vì che chở cho chúng .Với cái trí thông minh khoa học đó, cho rằng động vật chỉ có bản năng, chứ không có trí óc và tình cảm. Đây là nhận định sai lầm, biết một mà không biết mười. Đức Phật đã dạy : “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, nghĩa là có lòng TỪ BI. Như vậy, súc sinh cũng có tâm TỪ BI. Tuy nhiên, súc sinh có tham dục nhiều hơn, nghiệp chướng nặng hơn người nên TRÍ HUỆ và TỪ BI rất khó khai mở . Nhưng, trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Có người nói rằng cứ vài ngàn con vật thì có con có tánh linh, có tình cảm như người (con số này chỉ là tương đối giúp ta có ý niệm mà thôi). Tại sao? vì kiếp trước, lúc sinh ra ở cõi người, chúng có tu tập, làm những việc phước đức, có hiếu thảo…
Chuyện kể rằng có người thợ săn bắn hạ một con vượn con, vượn mẹ quá thương con, nhảy xuống ôm con vào lòng, thế là nó bị bắt. Khi làm thịt, người ta thấy ruột vượn mẹ đứt ra từng khúc. Từ đó, hai chữ ĐOẠN TRƯỜNG (đứt ruột) được dùng để nói lên sự đau xót tột cùng…
Bạn có biết chữ LỆ (nước mắt), theo chữ Hán, gồm có: bộ THỦY là nước, chỉ nước mắt; chữ THI là xác chết; chữ KHUYỂN là con chó . Con chó thấy xác chủ bèn chảy nước mắt …Nngười tạo ra chữ Hán có lẽ là bậc Thánh, vì thấy rõ cái nghiệp ở tiền kiếp của chó làm thân người, quá thương yêu, quyến luyến , muốn che chở bảo vệ người thân . Khi chết đi, đầu thai vào thân chó, nhưng chủng tử tiền kiếp vẫn còn trong tâm thức. Sóng trong tâm phát ra, cộng hưởng với sóng trong tâm của người thân mà tìm đến nhau ,nhưng cả hai đều không biết, “đồng khí tương cầu”, vượt ra ngoài sự hiểu biết của lý trí) .
Người xưa giải thích rất hay nhưng lại không có bằng chứng; người đời nay có bằng chứng nhưng không giải thích được. Xin ghi lại hai câu chuyện thật sau đây: “Nhà khoa học WALMSLEY thuộc Đại học OXFORD, Anh quốc, cùng nhóm nghiên cứu đã ghi lại hình ảnh xúc động của một chú khỉ bờm đen đau buồn ôm xác con trong hai ngày tại bảo tồn thiên nhiên Tangkoko, thuộc vườn thú quốc gia Sulawesi, Indonesia. Các nhà khoa học cho biết bé khỉ trong bức ảnh chỉ vài tuần tuổi, thuộc loài khỉ bờm đen. Hình ảnh mẹ khỉ ghì chặt xác con vào ngực, sau đó thực hiện những hành động âu yếm như chải chuốt, hôn và nhìn nó bằng ánh mắt buồn bã. Thậm chí, có một hai lần mẹ khỉ lấy tay đẩy một con khỉ đực khi nó đang cố gắng tiếp cận chạm vào bé khỉ. Các nhà khoa học đã bỏ đi sau một giờ quan sát. Hai ngày sau, họ quay trở lại và sửng sốt trước cảnh tượng mẹ khỉ vẫn ôm chặt con. Và cuối cùng, khoảng một vài tiếng nữa, nó bỏ xác bé khỉ và ra đi trong tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng.” (Trùng Dương-TUỔI TRẺ ONLINE ngày 13/5/2014 )
Câu chuyện con khỉ bờm làm ta liên tưởng đến con vượn mẹ ở trên, còn chú hươu cao cổ sau đây lại giống con chó rơi lệ khi nhìn thấy xác người chủ : “Theo hãng tin Mỹ ABC News ngày 21/3/2014, ông Mario bị ung thư giai đoạn cuối, có tâm nguyện được trung tâm y tế Ambulance Wish đưa đến sở thú Blijdorp để nói lên lời vĩnh biệt với các đồng nghiệp và muốn nhìn thấy lần cuối cùng những động vật được ông chăm sóc trong 25 năm qua, trong đó có những chú hươu cao cổ đáng yêu. Trong cơn hấp hối trên giường bệnh, một chú hươu cao cổ tiến tới gần, thò đầu qua khung chắn bảovệ và đặt nụ hôn tình cảm tri ân lên phần trán và mũi ông Mario. Đó là một thời điểm rất đặc biệt, ông Mario đã mĩm cười khi được chú hươu cao cổ hôn. Dường như con vật cảm nhận sức khỏe đang tồi tệ. Ông Kees Veldboer giám đốc Ambulance Wish nói với Dutch News của Hà Lan (Huỳnh Phương ,TUỔI TRẺ ONLINE ) .
Con người, dù may mắn sinh vào cõi Người, nhưng mỗi người lại có một nghiệp khác nhau, có người thiện, người ác, người hưởng phước đức, người bạc phước, “một trăm người đục, một chục người thanh”, thế giới súc sinh cũng vậy, đa số vô minh, mê muội nhưng cũng có những con có tình cảm, có tánh linh, có thần thông, biết biến hình . Các vị Pháp sư thường hay kể về một vị Hòa thượng giảng sai luật nhân quả mà phải bị 500 kiếp làm chồn, nhờ có thần thông, biến thành hình người, tìm gặp Ngài Bách Trượng để thỉnh giáo, nhờ vậy mà thoát được kiếp làm chồn.
Trong tác phẩm “THƠM NGÁT HƯƠNG LAN”, HT. Hư Vân đã kể lại nhiều con vật có tánh linh được Ngài quy y, biết ăn chay, niệm Phật, khi chết thị hiện tướng vãng sinh. Xin trích lại một vài trường hợp:
CHUYỆN CON SÁO Ở ĐIỀN TẠNG: “ Năm ấy, ở đại hội Phật giáo Điền Tạng, có một chuyện lạ nhỏ. Dân làng đem một con sáo biết nói đến phóng sinh. Mới đầu nó còn ăn thịt. Tôi quy y xong, dạy nó niệm Phật thì nó không chịu ăn mặn nữa. Sáo rất ngoan, dễ bảo ,biết tự động bay ra, bay vào. Ngày nào nó cũng niệm danh hiệu Phật và Thánh hiệu Bồ Tát QuanThế Âm không gián đoạn. Một hôm, nó bị chim ưng bắt đi, giữa không trung,vẫn còn nghe tiếng nó niệm Phật lảnh lót. Tuy nó mang thân thú nhưng lúc sắp xả báo thân, kề cận cái chết mà vẫn không bỏ niệm Phật, lẽ nào làm người, lại không bằng sáo nhỏ kia ư?” (trang 130)
CHUYỆN CON NGỖNG Ở CỔ SƠN: “Tháng sáu, khánh thành vườn phóng sinh, cư sĩ Trịnh Cầm Tiêu đưa đến một bầy ngỗng, trong đó có một con ngỗng trống rất là đặc biệt nặng 9kg6, hễ nghe tiếng mõ thì nó dang cánh, rướn cổ kêu to, lúc vào Điện Phật thì nó đứng yên chiêm ngưỡng. Được một tháng, nó đứng trước Phật mà mất, vẫn không ngã. Trịnh cư sĩ lấy làm lạ bèn xin thiêu nó như chư tăng. Để 7 ngày mới thiêu, vẫn không có mùi hôi. Nhân đó, mới làm ngôi mộ cho nó” (trang 178)
CHUYỆN CON CHỒN TRẮNG: Năm Dân Quốc 25, Bính Tý…Lâm quốc Canh( đoàn trưởng sư đoàn 16 ) đến thăm, tay xách cái lồng, trong có con chồn toàn thân trắng tuyết, điểm lấm chấm đen…Ông kể lại lý lịch ly kỳ của con chồn. HT. Hư Vân liền thu nhận,và quy y. Ngài thuyết Tam quy, Ngũ giới cho nó xong thì thả nó ra khu rừng rậm sau chùa. Từ khi thọ giới, nó không còn ăn mặn nữa. Những người thợ xây chùa trêu chọc nó, họ nhét thịt vào chuối đưa cho nó ăn. Con chồn khi biết mình ăn nhầm, liền nhổ ra, tỏ vẻ giận dữ, bất bình. Sau đó, nó bỏ đi suốt mấy ngày…Một hôm, chẳng biết nó đi đâu mà bị xe cán trọng thương, không đứng dậy nổi… Hòa thượng biết không thể cứu được, bèn khai thị : “Cái túi da này, không đáng để lưu luyến nữa, con đừng bám víu vào, hãy buông xả và sám hối tất cả nghiệp duyên .Khởi một niệm sai thì phải đọa, phải nhận lấy ác báo, chịu nhiều thống khổ. Giờ đây quả báo của nghiệp xưa đã mãn, ta mong con nhất tâm niệm Phật, để sớm được giải thoát. Nó hiểu ý, gật gật đầu, kêu lên mấy tiếng ,rồi tắt hơi. Thi thể nó để hai ngày mà vẫn không biến đổi …Nó được tổ chức tang lễ như môt vị tăng (tóm lược, trang 194-97)
Trong tác phẩm “CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA”, ta thấy có những nhân vật đặc biệt xin quy y với Ngài như lang sói, quỷ thần, giang hồ…Những đối tượng này, chỉ cần nghe tên là ta cảm thấy ớn lạnh, nhưng chúng lại có tâm hướng thiện. Theo lời kể của Ngài, người đệ tử thứ hai của Ngài là một kẻ hư xấu nhất, không một việc xấu nào mà chú không làm, pháp danh là Qủa Thuấn, sau khi xuất gia đã hoàn toàn thay đổi. Ngài nói: “Chú theo tôi xuất gia cũng nhiều năm nhưng chỉ mặc có một bộ đồ, không có áo ấm, không có giày đệm ấm, cái gì chú cũng không có. Chú còn giữ giới không giữ tiền, ngày ăn một bữa ngọ, thường ngồi, không nằm, tu hạnh Đầu Đà. Trong số các đệ tử của tôi, chú đứng nhất về tu hạnh Đầu Đà ,Quả Thuấn tinh tấn tu đạo, chuyên tâm, nhất ý thiền định, .. Trong định chú biết được tất cả các nhân quả ở quá khứ, hiện tại ,tương lai…” Có ai ngờ, từ một người xấu ác, chú đã trở thành vị đệ tử mà Hòa thượng ưa thích nhất. Hòa thượng kể : “Quả Thuấn có ba cái không sợ: không sợ đói chết, không sợ nghèo chết, không sợ lửa thiêu chết. Chú ta không giống như những vị thầy chính trị, vì sân hận mà tự thiêu cho chính phủ xem! Chú ta vì cảm nhận được nỗi khổ của thế gian này, nên muốn thay chúng sinh chịu khổ báo mà đốt thân cúng Phật, hồi hướng cho chúng sinh. Ngày hôm sau, dân trong thôn thấy chòi tranh bị lửa lớn cháy rụi, vội đến xem xét thì phát hiện thân thể Qủa Thuấn cháy thành tro, trong lúc vẫn còn ngồi ngay ngắn, duy có trái tim không bị cháy. Đây đủ chứng minh chú có định lực, đã thành đạo nghiệp, cử chỉ, hành động, lời nói của chú đã hoàn toàn không giống như xưa . Về sau, Vạn Phật Thánh Thành(ở Mỹ) có thành lập bài vị cho chú, rất tiếc là tôi không có hình của chú”(15)
Quả Thuấn, đã chứng minh câu nói của người xưa “ kẻ đại ác hồi đầu thành người đại thiện”. Quả thật, thiện ác, mê ngộ như hai mặt của một bàn tay, chỉ cần lật qua thì ta có ngay tức khắc mặt khác…Con sáo, con chồn chưa vào chùa thì vẫn còn kiếp súc sinh (ăn mặn, tức sát sanh…), khi gặp Ngài HưVân thì tự động ăn chay, tâm súc sinh đã thành tâm của người tu hành, dù vẫn còn mang xác súc sinh…Do vậy, chúng ta nên dùng tâm TỪ BI mà đối đãi nhau, đừng lấy tâm phân biệt mà chấp vào thiện ác, người tốt, kẻ xấu rất dễ gặp chướng ngại trên con đường tu tập.
PHỤ CHÚ: Đức Phật nói : “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”, nghĩa là đều có tâm TỪ BI nên tiêu đề (phần D) không cần phải giải thích, chứng minh. Tuy nhiên, do lòng xót thương kiếp súc sinh phải sống chung với cõi người, nên hàng ngày, có vô số, vô lượng con vật bị giết chết bởi bàn tay của con người.Một trong số những lý do giết hại đó là không biết con vật cũng có tình cảm, có tâm hướng thiện, có tánh linh, cũng biết đi tìm chân sư và chúng tìm còn chính xác hơn ta, nên chúng tôi sưu tầm những câu chuyện thật, có nhân chứng, vật chứng, có thời gian, không gian rõ ràng, giúp súc sinh minh oan, nói giúp chúng một đôi lời …Nếu bạn giết hại súc sinh (trực tiếp hay gián tiếp), tức là mình đã gieo trồng NHÂN súc sinh trong tạng thức rồi, con vật đó chính là bạn ở kiếp sau. Luật NHÂN QUẢ không bao giờ sai .Và, nếu giết lầm, ăn lầm một con vật có tánh linh thì tai họa sẽ đến ngay tức khắc.
Đây là câu chuyện “ Săn bắn chim linh thiêng bị tai nạn và chết thảm”, do chị Hòa Bình kể tại VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ, ngày 11/11/2010,HT.Huyền Diệu ghi lại. Chúng tôi xin lược ghi: “Chùa Bái Đính là một quần thể chùa cũ và mới rất đẹp ở Ninh Bình do công ty Xuân Trường tái thiết rất đẹp, nhờ vậy mà cảnh hùng vĩ núi non nầy được phát hiện và bảo vệ, nên chim chóc nhiều loại về đây trú ngụ, đặc biệt là loại chịm quý hiếm mà nhiều người gọi là Linh Điểu… Việc xuất hiện nhiều loại chim đặc biệt này đã thu hút rất nhiều người yêu quý thiên nhiên…bên cạnh đó cũng đồng thời xuất hiện những con người thích săn bắn…Họ cho rằng khi bắn được loại chim này thì được bạn bè khen, cho đó là sự thành công của cuộc đời… Có người trong gia quyến của họ, vì lòng từ bi đề nghị đừng sát hại loại chim này thì bị mắng nhiếc, chửi bới…Có một vị bác sĩ nổi tiếng của địa phương cũng hợp tác …vào rừng săn bắn. Không lâu sau đó bỗng có một tin kinh hoàng xảy ra .Vị bác sĩ không biềt do nguyên cớ gì từ trên lầu cao nhảy xuống đất chết một cách thảm thiết . Còn một người khác thì tự nhiên lấy súng bắn vào đầu tự tử. Hai người khác thì bị xe cán chết trên đường đi nhậu thịt rừng.”(16)
E- TỪ BI LÀ TINH HOA CỦA ĐẠO PHẬT
Nói đến đạo Phật, người ta nghĩ ngay đến TỪ BI, vì chỉ có đạo Phật mới có TỪ BI, các tôn giáo bạn đều dạy cho ta làm điều thiện, nhưng chỉ thiện với con người mà không thiện với loài vật, cái thiện của tâm phân biệt, nên có một giới hạn nhất định. TỪ BI của đạo Phật là TỪ BI của TRÍ HUỆ (có lục thông, ngũ nhãn, nên thấy tất cả chúng sinh điều có mối liên hệ với nhau như từng là cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu…) nên tình cảm vừa có chiều rộng (thương tất cả các đối tượng), vừa có chiều sâu (cứu giúp, xả thân vì chúng sinh). TỪ BI của đạo Phật thể hiện một sự bình đẳng, không có nhân, có ngã, không còn tâm phân biệt đối tượng, HT.Tuyên Hóa đã nói:“Ai muốn giết con kiến hãy giết tôi đi”. Nếu tinh hoa của đạo Phật là bình đẳng quan về mặt triết lý, thì TỪ BI đã thể hiện được triết lý này; nếu tinh hoa của đạo Phật là nét đẹp về tâm hồn, thì TỪ BI chính là tinh hoa của đạo Phật ; nếu như tinh hoa của đạo Phật là sự nhiệm mầu, thì TỪ BI cũng chính là tinh hoa của đạo Phật, vì TỪ BI là siêu khoa học, đã làm được những điều mà khoa học dù có hiện đại đến đâu cũng không thể nào làm được…(Chúng tôi đề cập ở phần sau)
CHÚ THÍCH:
(1)Một vị Hòa thượng ở miền Trung (khuyết danh) :
Kinh sách lưu truyền tám vạn tư
Học hành chẳng thiếu, cũng chẳng dư
Đến nay tính lại, dường quên hết
Chỉ thoáng trong đầu một chữ NHƯ
(2) 347- 48 KINH THỦ LĂNG NGHIÊM, Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, tập 1, Thích Nhuận Châu dịch, NXB. Phương Đông
(3) Trang 73, 13 VỊ TỔ TỊNH ĐỘ TÔNG, Hòa thượng Thích Thiền Tâm, NXB .Phương Đông
(4)Trang 279, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM, Hỏa thượng Tuyên Hóa giảng thuật,…tập 5
(5)Trang 347, CẨM NANG TU ĐẠO, LƯỢC THUẬT HÀNH TRANG HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂN, NXB.Tôn giáo: Hòa thượng Quảng Khâm và Hòa thượng Tuyên Hóa gặp nhau tại Đài Loan, vào năm 1974. Xin trích đoạn đối thoại của hai vị:
Hòa thượng Quảng Khâm :
-Ngài chính là Bồ Tát
Hòa thượng Tuyên Hóa :
-Ngài chính là Đại A La Hán ,chúng ta sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp,bây giờ lại được trùng phùng,tuy nói vậy,nhưng chúng ta đã gặp nhau mấy lần rồi.
Hòa thượng Quảng Khâm :
-Ngài vừa đến, tôi đã biết trước, Ngài là ai. Tâm Bồ Tát định gặp là gặp.
(6)Trang 29 – 34, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN (Hòa thượng Hư Vân), do Kiều Châu, Như Thủy, Hạnh Đoan dịch.
(7)Trang 121,THỬ LUẬN VỀ NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA ĐỐI VỚI NỀN PHẬT HỌC,Trần Do Bân, Sách Ấn tống.
(8) Trang 326 -36, THƠN NGÁT HƯƠNG LAN.
(9) Chữ HUỆ chính là chữ TUỆ (có bộ tâm), Phật giáo hay dùng chữ HUỆ, thế tục thì dùng TUỆ . Chữ TUỆ không có bộ tâm có nghĩa là cái chổi.
(10) Trang 145 -49, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, tập 5.
(11) Trang 28, GẬY KIM CANG HÉT (Hòa thượng Tuyên Hóa vấn đáp ký lục) tập 1.
(12) Trang 87, tập 2
(13) PHẬT HỌC TINH HOA, Nuyễn Duy Cần, NXB. Khai Trí
(14) Tang 287 THƠM NGÁT HƯƠNG LAN.
(15) Trang 225-229 và 325-326, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA
(16)Trang 73, KHI MẶT TRỜI LÊN,Hòa thượng Huyền Diệu
LPH03- TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA
*PHẦN THỨ HAI: TỪ BI, SỰ MẦU NHIỆM SIÊU VIỆT*
Kho báu TỪ BI ở ngay trong tâm chúng ta, có một năng lực mầu nhiệm, siêu khoa học; nhưng muốn tìm được kho báu này, chúng ta phải buông bỏ hết “kho báu” thế gian, đó là sắc, thanh, hương,vị, xúc, pháp. Bỏ một đã khó, làm sao bỏ cả sáu ? Cho nên dù chư Phật và Bồ Tát xót thương chỉ dạy, con người vẫn cứ thờ ơ, chỉ thích bám lấy “kho báu” trần gian với bất cứ giá nào! May mắn cho chúng ta, các vị chân tu thời hiện đại đã buông bỏ hết vạn duyên thế tục, với một trái tim TỪ BI đã đến được kho tàng quý giá này, mang về cho đời những viên ngọc quý, rất nhiệm mầu… Sự nhiệm mầu thể hiện qua sự trải nghiệm tâm linh, và trong quá trình hoằng pháp với những mẫu chuyện thật, người thật, đây cũng là nhưng bài pháp viết bằng chuyện kể có khả năng làm thức tỉnh những ai còn chưa tin sâu vào sự nhiệm mầu của kho báu TỪ BI.
A- TỪ BI : PHẢN KHOA HỌC, SIÊU KHOA HỌC, VÀ KHOA HỌC
Căn cứ vào những trải nghiệm tâm linh của những vị chân tu để so sánh với khoa học, ta thấy TỪ BI vừa phản khoa học, vừa siêu khoa học, nhưng cũng là khoa học. Đặc điểm này dễ nhận biết nhất trong lãnh vực y học :
-VỀ ĂN UỐNG :
Về ăn uống, y học Tây phương chú trọng vào hàm lượng dinh dưỡng calori như tinh bột, chất đạm, chất béo, sinh tố… Đông y thì quan tâm về bổ âm, bổ dương, nếu thiếu chất dinh dưỡng thì cơ thể sẽ suy nhược, thiếu trầm trọng sẽ tử vong. Các vị chân tu thì có quan điểm ngược lại: HT. Quảng Khâm, chỉ có 10 cân gạo, ẩn tu trên núi 13 năm, Ngài ăn trái cây, củ rừng, HT. Tuyên Hóa cũng ăn uống như vậy trong ba năm thủ hiếu ở mộ mẹ, đôi khi phải nhịn đói, HT. Hư Vân ẩn tu trên núi hai lẩn(mỗi lẩn 3 năm). Ngài kể “Từ 28, 29, 30 tuổi, suốt ba năm này, tôi ở trong hang núi, chỉ ăn trái thông, rau cỏ…khát thì uống nước suối…tôi bấy giờ một bát cũng không có, vẫn sống vô ngại tự tại, thư thái an nhiên, thể lực ngày một cường tráng, tai mắt sáng tỏ, cất bước nhẹ nhàng, lẹ như bay …” (1)
-VỀ VỆ SINH, AN TOÀN THỰC PHẨM
HT. Quảng Khâm, sau mỗi buổi ăn, Ngài lượm những thức ăn rơi rớt dưới đất mà ăn .HT. Tuyên Hóa (lúc chưa xuất gia, nhưng Ngài đã phát Bồ Đề tâm) đã từng lượm vỏ khoai của cảc bạn vứt xuống đất mà ăn, kể cả khi bạn nhả ra vì ăn nhầm vỏ củ. Ngài kể, khi thủ hiếu ở mộ mẹ, có một vị Tỳ Kheo cho Ngài một thùng bánh bao(chừng21 cái): “Lúc bấy giờ trời nóng oi bức mà tôi thì không để ý gì hết, nên không đem bánh ra ngoài hong gió, hay phơi cho khô, rốt cuộc bên trong, bên ngoài đều nổi mốc, cao dày khoảng một tấc rưỡi(tấc mộc). Bánh bao bị hư mốc meo đến thế, nếu đem bỏ đi thì sao? Đây là vật người ta cúng dường, hơn nũa là do thầy Tỳ Kheo đem tới, trong khi đó, tôi chỉ là một chú Sa Di. Còn nếu không bỏ đi, rất khó ăn vì nó vừa cay nồng vừa hôi thúi…Có người đến thấy tôi ăn bánh bao meo mốc này, liền bảo tôi đừng ăn, nói ăn sẽ bị bịnh chết. Tôi nói: “sanh bịnh à ?Cái gì sanh bịnh?”…Nhưng tôi ăn hết bánh mốc đó cũng không bị bịnh, cũng không có việc gì xảy ra! Lúc đó tôi buông xả cả thân tâm, cho nên mới có thể ăn được “cái không thể ăn”. Tôi tin rằng lúc đó dù có cái gì khó ăn cách mấy đi nữa tôi đều có thể ăn được”(2)
-KHẢ NĂNG NHỊN ĂN, UỐNG
HT. Tuyên Hóa có khả năng nhịn ăn hai, ba tháng mà vẫn có thể xách được vật nặng chừng 14 kg. (Ngài từng nói, nhịn ăn là nhường phần mình cho người khác , vì vật chất sẽ không mất đi đâu cả). Các vị chân tu nhập định một vài tuần là chuyện bình thường, thậm chí cả hàng tháng . Nhập định thì không ăn, uống, khi vào sâu thì hơi thở cũng không còn như HT. Quảng khâm: “Hòa Thượng thường hay nhập định. Có lần Ngài nhập định vài tháng, không ăn, không uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở như đứt tuyệt. Có người gần đấy lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên đã tức tốc cấp báo với HT. Chuyển Trần để lo việc hỏa táng. May thay lúc ấy, có vị cao tăng là Đại Sư Hoằng Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe tin trên bèn cùng HT. Chuyển Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Đại Sư Hoằng Nhất biết Ngài đang nhập định, liền gõ ba tiếng khánh đánh thức Ngài dậy từ trạng thái thiền định. Tin Ngài nhập lan đi khắp nơi, khiến ai ai cũng tán thán” (3) Ta biết rằng không uống nước bốn, năm ngày là chết, không thở vài phút là chết, vậy mà Ngài không thở, không uống hàng tháng trời mà vẫn sống. Thật là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, khoa học không thể nào giải thích được.
- NGỦ ( Nhất tâm bất loạn không cần ngủ)
Khoa học coi trọng giấc ngủ rất đúng vì cơ thể hoạt động mỏi mệt nên cần phải có thời gian ngủ nghỉ. Tại sao cơ thể mỏi mệt ? Vì mất đi năng lượng; năng lượng mất đi do hoạt động cơ bắp thì ít, mà mất do vọng tưởng, tham, sân, si …nhiều hơn vì nó làm cho hệ thống thần kinh ở não bộ hoạt động liên tục như lo sợ, buồn vui, hờn giận, tiếc thương…khiến ta tiều tụy, mỏi mệt hơn là lao động chân tay. Các vị chân tu,với tâm TỪ BI luôn luôn thanh tịnh(không vọng tưởng, không tham, sân, si, không vị kỷ…) nên thần kinh ở não hầu như không hoạt động, không mỏi mệt, do đó ngủ rất ít hoặc không ngủ. HT. Hư Vân không ngủ, nhưng Ngài thọ 120 tuổi, tâm trí siêu việt. HT. Thích Trí Tịnh không ngủ nhưng Ngài vẫn khỏe, khi siêu âm thì nội tạng vẫn tốt. HT.Quảng Khâm nói rằng khi ta đạt đến nhất tâm bất loạn thì ăn ngủ không thành vấn đề. Các vị tu khổ hạnh (thân càng khổ thì tâm càng an lạc) thì ngủ ngồi; thực ra cách ngồi kiết già để vào định, chứ không phải là ngủ như chúng ta.Thật vậy, nếu ngồi mà ngủ thì thân sẽ ngả nghiêng, lưng, cổ không thẳng, khí huyết lưu thông gặp trở ngại sẽ bị bịnh ngay, làm sao các Ngài có thể ngủ ngồi cả trăm năm như HT. Hư Vân, năm, sáu mươi năm như HT. Tuyên Hóa, Quạng Khâm. (HT. Quảng Khâm tuy ở chùa nhưng Ngài không vào chùa ngủ, mà ngồi kiết già thiền định ở ngoài sân) . Có một Phật tử hiếu kỳ hỏi HT. Tuyên Hóa:
- Ban đêm ngủ ngồi có ích chi?
Đáp:- Tối ngủ ngồi là không nằm xuống ngủ, chúng ta không những tiết kiệm được giấc ngủ mà tinh thần càng sáng suốt hơn và hàng phục được tâm dâm dục nữa (tức vào định)(4)
-GIỮ ẤM THÂN NHIỆT
Khả năng chịu đựng của con người có giới hạn nhất định, không thể chịu đựng được nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh. Có người cho rằng Đức Phật Thích Ca tu trên núi Tuyết là huyền thoại, vì làm sao con người lại chịu được cái lạnh của tuyết trong sáu năm. Nhưng, các đệ tử của Ngài hơn 2500 năm sau đã chứng minh điều đó như HT. Hư Vân, Quảng Khâm chỉ có áo vải mà ẩn tu trên núi trong một thời gian khá dài. Mùa đông ở Trung Quốc nhiệt độ âm rất lạnh. HT.Tuyên Hóa kể: “ Ở Đông Bắc vào mùa đông, thường thường là 33, 34 độ dưới 0 độ, khi xuống 38 độ dưới 0 là nhất định rét cóng chết người được. Khi thời tiết như vậy, tôi lại phát nguyện không mặc áo len, chăn bông, chỉ mặc áo vải…Tôi đi chân không trên tuyết, chân rét nhưng không bị tổn thương. Tôi tiết kiệm các y phục để dành hồi hướng cho người không có đồ mặc…Nếu người nào phát nguyện gì tức Phật, Bồ Tát sẽ mãn nguyện cho người ấy”(5). Khoa học không thể nào lý giải được, cũng không thể phản bác được, vì các vị chân tu đã chứng minh được điều mình nói(nói được thì làm được)
Sự so sánh nhỏ ở trên (mới chỉ là một lãnh vực) đã làm nổi bật sự tương phản, nhờ đó mà thấy được tính siêu khoa học. Tại sao gọi siêu khoa học? Vì các vị chân tu không dựa vào kiến thức của khoa học mà vẫn sống tốt hơn; chẳng những tốt hơn mà còn làm được những việc phi thường, tưởng như trong cổ tích ,HT.Hư Vân kể : “Mùa xuân, từ Đình Quan Âm, chúng tôi bắt đầu chở ngọc Phật đi, thuê tám người khiêng, giao hẹn rõ ràng…nhưng những người khiêng thuê nghi trong tượng có giấu tiền, vàng chi đó…họ muốn tăng thù lao lên gấp đôi. Tôi biết không thể cãi lý với họ, chợt thấy ven đường có tảng đá to, nặng gấp ba lần tượng Phật, tôi liền bảo họ:
-Tảng đá này so với tượng Phật, bên nào nặng hơn?
Họ Đáp:- Đá nặng gấp mấy lần!...Tôi bèn đưa hai tay nhấc bổng hòn đá lên khỏi mặt đất. Bọn họ le lưỡi, cảm phục …xá tôi …Họ chẳng còn đòi hỏi gì nữa…(6)
Một người “suy dinh dưỡng” trầm trọng và không ngủ, lại mạnh hơn lực sĩ và thọ đến 120 tuổi, tỉnh táo đến phút cuối cùng. Chắc có người cho là nhờ một sự bí ẩn nào đó. Phật pháp rất quang minh, không có gì là bí mật cả, bất cứ ai làm đúng phương pháp thì đều có kết quả, nghĩa là rất khoa học .Phật pháp có nhiều pháp môn (pháp môn nào cũng TỪ BI); mỗi pháp môn có một cách hành trì riêng, tùy thuộc vào căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người, như Tịnh Độ Tông thì phát Bồ Đề tâm, tín, nguyện, hạnh(niệm Phật), ai tinh tấn, người đó sẽ được vãng sinh, không phân biệt xuất gia hay tại gia (ngày nay, vãng sinh đã trở thành chuyện thường ngày). Với cách tu khổ hạnh (hạnh Đầu Đà), tuy khó nhưng nếu chịu “khổ thông” sẽ được thần thông. HT.Quảng Khâm khi xuất gia, được HT. Chuyển Trần dạy: “ Ăn thức ăn mà người không muốn ăn, mặc cái mà người không muốn mặc, làm cái mà người không muốn làm, về sau con sẽ rõ”. Và về sau, Ngài đã trở thành một vị Thánh, một bậc ĐẠI TỪ BI.
Quả Thuấn, như đã đề cập ở trên, khi xin xuất gia, HT. Tuyên Hóa đã đưa những điều kiện rất cụ thể: “xuất gia là việc cực khổ, cần nhẫn điều mà người ta không nhẫn được, nhường những điều mà người ta không nhường được, ăn cái mà người ta không thể ăn, mặc cái mà người ta không thể mặc, quên mình vì người, bỏ việc tư vì việc công, mới chính là bổn phận của người xuất gia. Nếu chú có thể làm được như vậy thì mới có thể xuất gia được”(7) (có lẽ chú là giang hồ nên HT.mới nói rõ ràng các điều kiện khắc nghiệt như vậy). Chú đã y giáo phụng hành và đã thành công: khai mở được TRÍ HUỆ và có được cái tâm TỪ BI của Bồ Tát.
Làm đúng cách thì đạt kết quả và nhiều người tự làm được thì đó chính là khoa học vậy. (Lời của HT.Tuyên hóa trên, đã tóm tắt phương pháp hành trì hạnh TỪ BI một cách hiệu quả nhất)
B- TỪ BI: PHƯƠNG THUỐC TRỊ BỊNH MẦU NHIỆM
Bịnh có ba loại: thân bịnh, tâm bịnh, nghiệp bịnh. Khó trị nhất là tâm bịnh và nghiệp bịnh. Tại sao con người lại bịnh? Đông y cho là do tà khí từ bên ngài xâm nhập vào cơ thể. Tà khí là gì? Đó là thời tiết, vi trùng, hóa chất độc hại, phóng xạ… Ngoài ra, còn có một loại độc tố nguy hiểm khác mà y học không thể nào nhận biết được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Những vọng tưởng về tà tri, tà kiến của chúng ta, như các tâm sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối ,sân hận,ghen ghét…đều chứa đựng độc tố bên trong, nên khi chúng phát ra sẽ làm cho không gian bị ô nhiễm. Bởi không gian chứa nhiều độc tố, thành thử hấp thụ vào cơ thể, cơ thể sẽ trúng độc…”(8) Bên ngoài tà khí xâm nhập vào; bên trong chính khí suy nên bịnh. Chính khí suy do rối loạn về tâm lý, tình cảm như hờn giận, lo lắng,buồn đau, tiếc thương …( tức lục dục thất tình dậy sóng trong tâm) kéo dài liên tục, bị đè nén,âm thầm chịu đựng. Nguyên nhân bên trong mới là chính yếu. Chính khí suy nên ngũ tạng bị ảnh hưởng,hệ thống miễn nhiễm suy, kháng thể yếu không có khả năng chống lại tà khí…
Chính khí là gì? Đó là chất vô hình, khả năng con người không thể biết được nhưng cảm nhận được, vì cảm nhận nên cách lý giải thường khác nhau. Chỉ có bậc TRÍ HUỆ mới giải thích được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Pháp nghĩa là gì? Quý vị trả lời: “Tôi biết rồi, đó là Pháp của Phật,của Pháp,của Tăng”.Thực ra quý vị chưa hiểu gì nhiều, nếu quý vị thực sự hiểu được ,quý vị đã không đánh mất Pháp của chính mình. Rốt cuộc, Pháp là gì? Pháp là khí chất sinh động của chúng ta. Trên nó thông cả thiên đường,dưới nó thấu cả địa ngục. Đến mức như chư Phật ,Bồ Tát cũng đồng một thể với chúng ta, vì khí chất sinh động ấy của chúng ta quán thôn tất cả. Khí này như hơi thở. Bao trùm và điều động được khí ấy gọi là Pháp. Do vậy,chúng ta dứt khoát cần phải nuôi dưỡng khí chất này. Chúng ta không nên đề thất tán mà phải tu tập nuôi dưỡng khí này. Nên nói:
Tài bồi tâm thượng địa
Hàm dưỡng tánh trung thiên
Nghĩa là: Vun trồng mảnh đất tâm,nuôi dưỡng chân tánh sáng như bầu trời…Nếu quý vị nuôi dưỡng khí chất của mình thì đừng có rời Pháp của mình…”
Qua lời giảng của Hòa thượng, ta thấy Pháp bao trùm và điều động khí(Pháp do tâm tạo ), tức tâm điều khiển khí, điều này cũng phù hợp với các môm phái khác như khí công (dùng ý để dẫn khí vào kinh mạch), và tâm cũng ảnh hưởng đến khí vì nó điều khiển khí. Tâm tán loạn thì khí cũng tán loạn nên phải bồi dưỡng mảnh đất tâm . Khi giảng phần này Hòa thượng liên hệ thực tế, Ngài hướng về Đạo tràng mà nói: “Khi tôi đến nhà bếp và trai đường,nghe quý vị nói chuyện như cái chợ, sau đó tôi thấy phòng ngủ cũng như cái chợ. Người mà không biết hạn chế lời nói của mình thì khó có khả năng tu tập. Nếu quý vị không hàm dưỡng tánh khí của mình thì quý vị sẽ không có Pháp”(9) . Điều này có nghĩa là nếu ta bàn chuyện thị phi như ngoài chợ thì Pháp khí sẽ bị đánh mất…Như vậy, Pháp khí phải được nuôi dưỡng bởi chân tâm, tức tâm Phật hay tâm TỪ BI. Do đó , muốn lục dục, thất tình không dậy sóng để bảo vệ chính khí, tránh tà khí xâm nhập, ta phải có tâm TỪ BI . Đây cũng là lý do tại sao các vị chân tu chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt, cũng như không quan tâm đến vệ sinh, an toàn thực phẩm mà vẫn khỏa mạnh.
Tâm TỪ BI giữ được chính khí nên diệt được tà khí giúp con người được khỏe mạnh. Nhưng trong thời Mạt Pháp này, nhất là sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật tạo ra quá nhiều tiện nghi vật chất làm cho dục vọng dâng cao, tâm tán loạn (cơ giới sinh cơ tâm), con người vẫn sống “khỏe”, và thực tế là y học vẫn trị được bịnh,vậy có mâu thuẫn với Phật Pháp ?
Không phải tâm tán loạn là sinh ra bịnh ngay tức khắc, mà phải trải qua một thời gian dài mới thành tâm bịnh,và còn tùy thuộc vào phước đức ở tiền kiếp nên mới có câu
: “ phước chủ may thầy”, mới có người ác vẫn sống thọ . Không ai có thể phủ nhận sự thành công nhất định của y học, nhưng y học chỉ trị bịnh mà không trị tâm, tức trị ngọn chứ không trị gốc nên bịnh nhân chỉ khá trong một thời gian hoặc khá bịnh này lại sinh ra bịnh khác (vì cái gốc tâm bịnh vẫn còn), giống như ta chặt nhánh cây này thì cây sinh ra nhánh khác. Vì sao? Vì gốc rễ vẫn còn. Nếu như sự tiến bộ của y học chữa trị bịnh của con người như Thần Thánh thì bệnh nhân phải càng ngày càng giảm.Trái lại, khoa học và y học càng tiến bộ thì bệnh viện ngày càng nhiều, diệt được bịnh này thì bịnh khác sinh ra... ( cái vòng lẩn quẩn)
Tâm bịnh là do con người tạo ra nên có thể điều trị được, nhưng nghiệp bịnh thì rất khó, thuốc men không có tác dụng. Nghiệp bịnh là quả báo mà mình phải trả, phải gánh chịu, do trong tiền kiếp mình đã hại chúng sinh, nhất là sát sanh. Và bây giờ họ tìm ta để đòi nợ. Họ nhập vào bộ phận nào đó của cơ thể thì bộ phận đó sẽ bị đau, có khi nhập rồi xuất, xuất rồi nhập, liên tục (người ta thường gọi là bịnh giả vờ), nếu vào não bộ thì cho là điên, khùng, (dân gian thì cho là ma nhập). Nợ của người ở thế gian còn có thể trốn tránh được, còn nợ với oan gia trái chủ (vô hình) thì không thể. Phật Pháp giúp ta cách hóa giải nghiệp chướng này, đó là sám hối, làm việc thiện, phóng sinh, giới sát, niệm Phật, trì chú Vãng Sanh, (ăn chay càng tốt) rồi hồi hướng cho oan gia trái chủ (quý vị nên tìm đọc VĂN PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI của HT. Tịnh Không để hiểu rõ và hành trì). Nếu thành tâm sẽ có kết quả tốt (tin thì thật, thành thì linh). Thực ra, ma quỷ cũng là chúng sinh, đều có Phật tánh, nghĩa là điều có tâm TỪ BI, nhưng vì sân hận , oán thù nên chủng tử ác hiện hành trong tâm thức, còn chủng tử thiện thì chìm sâu, nên họ ác với ta. Nếu ta chân thành sám hối và hồi hướng công đức cho họ, làm cho tâm họ được nhẹ nhàng( nhẹ là dương; dương là thiện),Chủng tử thiện có cơ hội huân trưởng và tăng trưởng, họ sẽ có thiện cảm với ta, không còn oán thù (thù trở thành bạn).
Chúng ta sinh ra ở cõi Ta Bà này là do nghiệp, trong đó có nghiệp sát hại chúng sanh nên ai cũng có oan gia trái chủ. Nhưng tại sao chúng lại đến tìm người này mà không tìm người kia? Vì chỉ khi nào phước diệt, họa mới sinh, chúng phải chờ đợi khi có cơ hội, tức là lúc phước ta suy, diệt. Người có phước đức sâu dày (từ kiếp trước hoặc tạo ra ở kiếp này) thì không có một thế lực nào có thể hại được. Do đó, chúng ta cần phải tu hành như không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật để có công đức và phước đức (tu là phước lớn nhất). Vả lại, tu hành chính là “bồi dưỡng mảnh đất tâm, hàm dưỡng tánh trung thiên”, bảo vệ chính khí, diệt tà khí. (ma quỷ cũng là tà khí)
Có một bà lão họ Trương bị bịnh tê liệt tay chân đã ba năm tìm đến HT. Tuyên Hóa xin được trị bịnh. Hòa Thượng nói: “Tôi không hiểu y học! Nếu bà muốn khỏi bịnh, chỉ có thể dựa vào lòng thành, đồng thời ăn chay và niệm Phật, tất sẽ có cảm ứng” Bà nghe lời Hòa Thượng khai thị, qua 100 ngày sau , bà được lành bịnh. Sau đó cả nhà bà đều quy y, dốc lòng làm việc thiện.(10)
Ông Đái Quốc Hiền bị bịnh phổi bất trị. Quá tuyệt vọng, ông cầu Hòa Thượng cứu mạng. Ngài dạy ông chí thành niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, phát nguyện không sát sinh,ăn chay. Ông hoan hỷ tín thọ… Từ đó, ông quy y Tam Bảo, trì chú Đại Bi và không ngừng xưng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát nên ông được lành bịnh như ý nguyện.(10b)
Phương thuốc trị bịnh ở trên là không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, hồi hướng công đức… gọi tắt là tâm TỪ BI. Các vị chân tu đã “ thử nghiệm” và đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Thuốc đã có sẵn trong tâm, không tốn tiền mua, không tốn công đi tìm, nhưng người sử dụng phải có lòng tin, lòng thành thì mới linh ứng
C-TỪ BI: HÓA GIẢI ĐƯỢC TAI HỌA:
Tai họa của con người gây ra là do nghiệp ác, nghiệp ác dễ làm hơn là thiện nên “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Nghiêp có cộng nghiệp và biệt nghiệp.
Nghiệp cá nhân, chủ nợ đóng rất nhiều vai: có thể là người nhà, lối xóm, bạn bè, người yêu, quen có , lạ có, có khi là thú vật, ma quỷ... Ta luôn ở trong thế “tứ bề thọ địch”, không biết đâu mà tránh ( “họa phúc vô môn”). Chủ nợ đến để đòi mạng, đòi nợ, gây thương tích, gây khó khăn, nói xấu… nhẹ nhất là ác cảm . Khi nhân gặp duyên thì quả báo xảy ra, có khi không cần một lý do chính đáng nào cả (như một sự va quẹt nhẹ, một cái nhìn, một câu nói đùa cũng xảy ra án mạng). Người ta thường nói sự cố xảy ra như vậy thật là phi lý, nhưng Phật Pháp tìm ra cái lý trong sự phi lý đó, đó là luật nhân quả. Chẳng những giải thích được mà còn có cách hóa giải rất mầu nhiệm.
HT.Huyền Diệu kể một câu chuyện vui (tôi không ghi chép nên chỉ nhớ đại khái): có một bà đến tìm thầy để nhờ ếm bùa hại bọn thanh niên lối xóm, vì chúng thường gây phiền phức cho bà. Thầy nói vui: “Bà muốn tôi giết chúng phải không?”. Bà đáp: “Phải!” (bà không rành về Phật Pháp) . Thầy ân cần giải thích về luật nhân quả và chỉ cách hóa giải hận thù: lạy sám hối. Thầy bảo bà đọc tên từng người rồi lạy sám hối họ trong ba tháng (vì bà có lỗi với họ ở tiền kiếp). Năm sau, thầy về nước, bà tìm thầy cảm ơn và nói: “Thầy nói lạy ba tháng, nhưng mới có tháng rưỡi mà thành công, giờ chúng thương tôi lắm”11). Tâm chúng sinh giống như cái máy thu sóng và phát sóng (tất cả các cảnh giới đều có trong tâm ), nên lời sám hối sẽ đến đúng đối tượng, sự sân hận không còn nữa. Trước đây mỗi lần đụng chuyện với chúng, bà rất giận, vô tình tạo duyên sân hận làm cho chủng tử sân hận trong tâm của chúng tăng trưởng, và huân trưởng nhanh chóng nên oán thù ngày thêm chồng chất (bà muốn giết chúng). Nếu như không hóa giải bằng cách lạy sám hối, thì thảm họa sẽ đến cho cả hai.
Lạy sám hối khi biết được đối tượng rất mầu nhiệm, nhưng chỉ là nhất thời, chứ không phải là phương pháp phòng ngừa. Phòng ngừa mới thực sự cần thiết, vì chúng ta đâu chỉ có một oan gia, trái chủ mà vô số (từ trong nhà ra ngoài phố). Chẳng những oan gia, trái chủ hữu hình mà còn vô hình (ma, quỷ), chúng chờ đợi cơ hội thích hợp, tác động váo tâm thức ta , khiến ta mê mờ, không còn tỉnh táo rồi gây ra tai nạn, hoặc nhập vào một người nào đó để hại ta (như nhập vào người say rượu, say thuốc, nên mới gọi là ma men, ma túy )
Phương pháp phòng ngừa là tu hành (giới sát, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật…) và ngày nào cũng hồi hướng công đức cho oan gia, trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay. Nhờ vậy mà oán thù được giải, cuộc sống được an vui . Như đã nói, tu hành cũng chính là vun bồi phước đức, phước đức lớn thì họa không thể hại được.
Họa đo cộng nghiệp (nhiều người cùng tạo nghiệp ác nên cùng nhận quả báo). HT. Hư Vân thuật lại một trận động đất kinh hoàng ở Đại Lý như sau : “Năm này, tôi đang giảng kinh ở Long Hoa Sơn, thì 4 huyện ở phủ Đại Lý phát sinh địa chấn kinh hồn, tại Đại lý là nặng nhất: nhà cửa, thành quách đều nhất loạt sụp đổ không còn gì. Chỉ có chùa viện, bảo tháp là không đổ…Trong cơn địa chấn đất rung chuyển trầm trọng, còn phát sinh ra lửa cháy ngùn ngụt tràn lan. Người ta tranh nhau chạy tránh nạn, thì dưới chân đất bỗng nứt ra, làm họ bị lọt xuống mắc kẹt trong đó, họ cố hết sức trèo lên, nhưng vừa ló được cái đầu thì đất liền khép lại, cắt đầu đứt lìa thân thể họ, nằm mắc kẹt trên đất. Cảnh tượng hãi hùng nhìn giống như người đang sống mà bị hãm trong địa ngục lửa thiêu, thảm đến mắt chẳng dám nhìn.
Mấy ngàn hộ dân trong thành tử nạn gần hết, sống sót rất ít.Trong đó có hai tiệm vàng: tiệm Vạn Xương của họ Triệu và tiệm Trạm Nhiên của họ Dương. Khi lửa cháy đến nhà hai gia đình này thì tự tắt.Chỗ họ ở cũng không bị địa chấn. Nhân khẩu mỗi nhà có mấy mươi người, tất cả đều bình an vô sự . Nguyên do là hai họ này, đời đời ăn chay trường và hay làm phước bố thí nên mới chiêu cảm được quả lành hi hữu như vậy. Ai biết được cũng đều xúc động.”(12). Trường chay và làm việc thiện mới chỉ là một phần của tâm TỪ BI mà vẫn có được sự nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.
D- TỪ BI HÓA GIẢI ĐƯỢC SỐ MẠNG
Số mạng chính là luật nhân quả (trong dân gian và thi ca thường gọi là số trời). Đại sư Ấn Quang khuyên những ai tin vào số mạng nên đọc “Liễu phàm tứ huấn”. Đây là tác phẩm rất hay, nói về việc cải số, con người hoàn toàn làm được. Xin tóm lược vài nét chính: Liễu Phàm, họ Viên tên Huỳnh, tự Khôn Nghị, người Giang Nam, đời Minh, sinh năm 1535 mất 1609. Ông gặp Khổng tiên sinh, một nhà tướng số rất nổi tiếng đoán tương lai vận mệnh như : thi ở huyện đậu hạng 14, thi ở phủ hạng71,thi ở Đề Đốc hạng 9, đậu tú tài, làm quan 3 năm rưỡi rồi xin về hưu, mất giờ sửu ngày 14 tháng 8, thọ 53 tuổi, không có con.
Trải qua các kỳ thi ấy, đúng từng chi tiết.Từ đó, ông thối chí (vì biết trước số phận của mình chắc chắn sẽ như vậy). Một hôm, ông gặp Thiền sư Vân Cốc, Ngài giảng dạy cho ông về cách cải số rất hay như: “Mạng do ta tạo (tức luật nhân quả), phước do ta tìm (tức tu hành, làm nhiều việc thiện). Số mạng chỉ chi phối cho những người suốt đời xuôi chiều theo tánh mình, không biết thay đổi mà thôi; còn đối với những người có sự chuyển biến mạnh mẽ thì số mạng không thể chi phối…”Ông hoàn toàn tin phục những lời dạy của Thiền sư. Ông sám hối, phát nguyện làm việc thiện… tinh tấn từng ngày ( mỗi ngày đều ghi sổ), được sự trợ giúp đắc lực của vợ. Sau một thời gian dài, kết quả tốt đẹp mở ra, khác hẳn với lời tiên đoán của Khổng tiên sinh. Ông có một người con trai, đậu tiến sĩ, làm quan lâu dài, thọ 74 tuổi.!(13)
HT. Tịnh Không nói rằng theo tướng số thì Ngài chỉ thọ 45 tuổi(vì cằm ngắn), nhưng Ngài xuất gia thì tuổi thọ tăng lên gần gấp đôi. Năm 45 tuổi chỉ xảy ra một trận đau nặng mà thôi. Ngài còn nói thêm là thầy Lý Bỉnh Nam cũng vậy.
Ông Phan Tế Thời là người rất giàu có ở huyện Song Thành, hai vợ chồng đã quá 40 tuổi vẫn không có con, nên rất lấy làm hối tiếc. Họ rất ngưỡng mộ H T. Tuyên Hóa và thỉnh Ngài chỉ dạy cho việc cầu con, Hòa thượng bảo: “Ông nên làm nhiều việc thiện, sao ông không đem phân nửa tài sản của ông bố thí cho tất cả chúng sinh để tích lũy công đức. Nếu làm được như vậy, tin rằng ông sẽ được mãn nguyện”. Nghe theo lời chỉ bảo, ông bèn phát tâm bố thí, sửa chùa, tạc tượng, cúng dường Tam Bảo, trợ giúp hội từ thiện. Qua năm sau, vợ ông sinh được một bé trai, đặt tên là Thí Đức. Bé này thông minh lanh lợi. Sau khi có con, ông càng tin sâu vào Phật pháp, hằng ngày tụng kinh, niệm Phật, làm việc thiện…(14)
Người xưa nói : “Đức năng thắng số”, “ ở hiền gặp lành”quả thật không sai. Trước đây, chúng tôi có hỏi GS. Giản Chi về thuyết số mạng, thầy nói rằng câu “tam phần nhân, thất phần thiên”( người 3, trời 7)nên sửa là “tứ phần nhân” mới đúng. Lời dạy của thầy rất hay, đề cao sự nổ lực, phấn đấu của con người. Nay, tìm hiểu về Phật pháp, ta lại thấy khả năng của con người chẳng những là “tam, tứ, ngũ…phần”, mà có thể thay đổi tận gốc rễ về “số trời”. Tại sao? Vì khi ta phát tâm TỪ BI,làm việc phước đức, tức là mình đã tạo DUYÊN cho chủng tử TỪ BI(vốn có) trong tạng thức tăng trưởng, huân trưởng, hiện hành trong tâm. Tâm được điều hành bởi chủng tử hiện hành đó. Pháp do tâm tạo, tức cảnh giới bên ngoài đều do tâm cả. Tâm động bên trong (tham, sân, si) thì bên ngoài sẽ động (trong ngoài hợp nhất), cuộc sống sẽ gặp nhiều đau khổ, chướng ngại; nếu tâm thanh tịnh(TỪ BI) thì sẽ có cảnh giới bên ngoài bình yên, may mắn , chiêu cảm được những ước mơ chân chính (tùy thuộc vào công phu tu tập).
Đây là câu chuyện “Ăn mày học cách tạo mạng”: Có một gã ăn mày tên là Kỷ Đại Phúc thường lui tới chòi rơm lễ bái HT. Tuyên Hóa. Gã thỉnh vấn Hòa thượng:“ Tại sao đời này con lại bần cùng như vậy”. Ngài giải thích đạo lý nhân quả ba đời, và dạy: “…Do nhân gì mà đời này chịu cảnh hèn? Là bởi đời trước keo kiệt, không muốn cứu tế người nghèo.” Kỷ Đại Phúc nói: “Con thường tự nghĩ, con đã không làm chuyện gì thiếu lương tâm, mà giờ đây chịu cảnh cùng khốn…,vậy chắc là do đời trước con đã keo kiệt, bủn xỉn, không biết bố thí. Ngài có biện pháp nào cứu vãn cho đời sau này của con không?”. Hòa thượng đáp: “ Quân tử học cách tạo mạng, chỉ cần ông bắt đầu từ đây, nổ lực làm việc thiện, quảng tích âm đức, tức ông có thể tự tạo cho mình một vận mạng mới, vậy có phúc nào mà cầu không được?”...Kỷ Đại Phúc nghe xong rất đỗi vui mừng, phát nguyện…,thỉnh cầu quy y Tam Bảo.
Từ đó về sau, lúc đi ăn xin, miệng ông niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” không gián đoạn. Khi xin được tiền, gạo ông đem tế bần, giúp người . Qua nhiều năm tháng tinh tấn, vào mùa đông năm Dân Quốc thứ 29(1940), ông biết trước ngày giờ vãng sinh, an tường qua đời trong tiếng niệm Phật.(15) Như vậy, ông đã thay đổi tận gốc rễ số mạng (cho dù kiếp sau có được làm vua hay thành tiên cũng không thể sánh với cõi Cực Lạc được)
E- TỪ BI: HÀNG PHỤC ĐƯỢC THÚ DỮ
Trước hết, xin được phép ghi lại lời của Bảo Đăng, tác giả “ VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM”: “Người đọc cần phải hội đủ lòng tin và dùng tâm trân trọng, chớ nên nói rằng thời buổi khoa học này thì làm gì có các sự việc như vậy, hoặc là chừng nào tôi thấy thì tôi mới tin v.v…Bởi vì đây không phải là cảnh giới của mình, không phải là công đức tu hành của mình (tức là mình tu chưa đạt đến mức như vậy)…Có nhiều người (tại gia lẫn xuất gia) mỗi khi nghe nói ở phương nào đó có một Thượng tọa hay Hòa thượng tu cao, đạt vài ba sự phi thường(mà họ không bao giờ có được) thì họ hoặc bĩu môi,hoặc là cười nhạo…(họ chẳng tin có người đắc đạo mặc dù họ là người có đạo, và đang tu theo đạo)”
HT Thích Thiền Tâm ẩn tu ở Phú An, Đại Ninh, Lâm Đồng, một vùng có rất nhiều rắn độc. Một hôm, sau khi làm vườn xong, Ngài trở vào thì thấy một con rắn quấn đuôi trên cửa, há miệng, le lưỡi, thở khò khè. Ban đầu,Ngài cũng có ý sợ, chần chờ không dám bước qua, nhưng lại nghĩ chẳng lẽ đứng ở ngoài sân hoài, dùng cây đuổi thì gây oán thù. Ngài niệm Phật và nghĩ đến phép quán TỪ BI mà bước vào. Con rắn đánh đu bên này, bên kia chạm vào mặt, vào cổ mà không hề cắn. Có hôm, khi Ngài vừa ngủ dậy, đặt chân xuống thì trúng mình con rắn, nhưng nó vẫn không phản ứng… Sau đó, Ngài biết là rắn vào nghe kinh… Ngài đã quy y cho chúng. Đây là loại rắn thần, có khả năng biến hình và nghe được tiếng người . Và, rắn đã hộ pháp cho Ngài…Hòa Thượng viên tịch năm 1992. Ngày khai mộ (21- 12-1992) có đôi kim xà đến viếng mộ, chúng nằm yên trước mộ một lát, rồi cất đầu lên ba lần, nhìn trưởng tử Thanh Nguyệt, sau đó bò vào đám tranh, mất dạng…(Câu chuyện còn dài và có nhiều chi tiết khá thú vị , có ghi hình đôi kim xà).(16)
Và, đây là câu chuyện “Mãnh hổ quy y” với HT Quảng Khâm: “Một hôm như thường lệ, Sư ngồi thiền trong động, bỗng nghe mùi tanh nồng nặc theo gió bay vào, Sư lấy làm lạ. Trong bối cảnh mơ hồ, dường như có vật gì to lớn lần bước vào trong động. Sư mở mắt nhìn kỹ, không ngờ đó là con mãnh hổ…Sư thốt lên: “A Di Đà Phật”, mãnh hổ …kinh hãi, vụt tháo chạy. Sau phút kinh hồn, nó lấy lại tinh thần… từng bước, từng bước tiến vào hang động…Sư nói: “ A Di Đà Phật! Lão hổ đừng sân hận! Oan oan tương báo không bao giờ dứt, ngươi ở đây thì ta sẽ ra ngoài, còn ngươi nhường nơi này cho ta tu hành thì sau khi ta thành đạo, sẽ độ cho ngươi…”. Mãnh hổ nghe lời Sư nói, không biết có hiểu hay không, nhưng nó đứng lại… Thật bất ngờ, mãnh hổ gật đầu như tỏ dấu thần phục…Sau đó nó dắt vợ con đến trước Sư mà đùa giỡn, trình diễn các kiểu múa vờn cho Sư xem, nhiều lần gật đầu như cầu xin việc gì. Sư liền quy y cho chúng”.(17)
HT. Hư Vân kể : “Ngày 17 tháng 11 âm lịch, tôi làm lễ kết giới ở chánh điện. Vào đêm thuyết giới Bồ Tát, có con cọp đến quy y, đại chúng đều kinh hoảng. Tôi thuyết giới cho nó xong, nó hiền lành ra đi”. Câu chuyện này được đệ tử Ngài kể tiếp: “ Mùa đông,năm 1934,Sư khai đạo tràng, các vị quan lớn quý tộc đều dẫn quân lính theo. Đêm ấy, người cháu của Giang Khổng Vân đang đứng trên Tàng Kinh Các bỗng thấy ngoài cổng có hai luồng điện xanh lè, bèn đến gần xem, mới hay là con cọp, ông kêu ầm lên, binh lính giương súng định bắn, Sư vội đến nơi , cọp liền nằm mọp dưới thềm.
Sư thuyết Tam Quy cho nó nghe, dặn hãy vào ẩn trong núi sâu, đừng làm hại người. Cọp khấn đầu ba lần,rồi bước đi, song vẫn ngoái lại với vẻ rất lưu luyến. Từ đó, mỗi năm nó về thăm Sư một hai lần…”-lược ghi-(18)
Răng nanh và móng vuốt của hổ, sói không đáng ngại, chỉ ngại nhất là cái tâm tham (tham ăn) và sân si (hiếu chiến, dã man). Các vị chân tu đã hàng phục được cái tâm tham, sân, si thì chúng rất hiền lành như con hổ trong câu chuyện trên.
Nhờ đâu mà các bậc chân tu hàng phục được? HT. Tuyên Hóa đã giúp chúng ta lời giải đáp qua “Vượt bảy thử thách”(bảy của ải ), khi Ngài thủ hiếu ở mộ phần của mẹ. Chúng tôi chọn ải số 2, đó là ải muỗi. Lời kể có chút khôi hài nhưng lại chứa một bài pháp thâm thúy: “ Ở Đông Bắc vào tháng ba không có muỗi, nhưng không biết sao vào tối hôm thứ hai thủ hiếu, có rất nhiều muỗi bay tới kêu vo ve rất lớn…Tôi vốn có thể đập chúng chết hết, nhưng tôi đang để tang mẹ, làm vậy sẽ có lỗi với mẹ tôi sao ?Được rồi ! Tôi bèn phát tâm bố thí, tôi nói: “ Xin chúng bay cứ việc tha hồ hút máu, tao đãi khách đó!Tôi vừa cởi áo ra, chúng liền bay tới đậu tấp nập trên thân tôi, nhưng chưa chích tôi mũi nào thì tức khắc bay đi. Các vị thấy có kỳ quái không? Từ đó trở đi, tôi ở mộ phần thủ hiếu, không khi nào muỗi đốt. Nhưng khách tới thăm tôi đều bị muỗi chích đốt tứ tung. Họ nói: “ ái da, đâu mà nhiều muỗi thế, sao có nhiều vị bác sĩ bác quá vậy!”…
Tôi nói ra đây, phải chăng giống như chuyện thần thoại? Các vị nghe rồi có thấy buồn cười không? Thật ra, điều này chẳng vui chút nào! Vì ngay lúc đó, nếu tôi không có tâm bố thí…thì chúng dễ gì bỏ qua cho tôi. Lúc đó tôi nghĩ: “Được, ta bố thí máu này cho chúng bay! Chúng bay hãy hút hết máu ta đi, dù có chết nơi đây ta cũng không báo thù chúng bay đâu. Ta không những không báo thù mà nếu thành Phật, ta vẫn sẽ hóa độ cho loài muỗi mòng và làm bạn với chúng bay. Một khi nghĩ vậy rồi tức bọn muỗi làm bạn với tôi, nên dù có đậu trên thân tôi, chúng cũng không nhẫn tâm hút máu của tôi. Các vị xem có phải là do có lực cảm ứng hay không? Nói tóm lại,một khi tôi thật sự phát tâm bố thí là chúng nó liền tha cho tôi… Do chuyện này, nên về sau tôi có cái bút hiệu là”Tỳ Kheo Muỗi”, vì tôi ký tên “Độ Luân” và “ Tuyên Hóa”này có một số người thấy rất đau đầu..” (19)
Hòa thượng đã phát Bồ Đề Tâm, chẳng những đem thân mình ra bố thí, mà còn nguyện độ cho chúng… Đó chính là tâm TỪ BI của BồTát (Con người vì sinh mệnh của mình mà giết hại dã man súc vật để nuôi thân; Bồ Tát vì mạng sống của chúng sinh mà hy sinh thân mạng của mình). Nhờ vậy mà có lực cảm ứng. . Cảm ứng là gì? Có CẢM nên mới có ỨNG (ỨNG là đáp lại, thuận theo ). Nếu mình TỪ BI với chúng, chúng cũng đem lòng TỪ BI đáp lại mình (“ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”), vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức tâm TỪ BI.TỪ BI có sự mầu nhiệm, siêu việt hơn cả thần thông, vì thần thông chỉ làm hạn chế, hoặc vô hiệu hóa khả năng đối phương chứ không thể biến thù thành bạn được. Nhưng có được cái tâm TỪ BI của các vị chân tu như HT. Thiền Tâm, Hư Vân, Quảng Khâm,Tuyên Hóa để cảm hóa chúng sinh là rất khó vì các Ngài là Bồ Tát, còn ta thì chỉ là Phật tử , còn nhiều tham, sân, si (nên luôn bị muỗi chích). Tuy nhiên, nếu tinh tấn hành trì hạnh TỪ BI, một ngày nào đó, mình cũng có chút lực cảm ứng, nếu không thì Ngài đâu có giảng rõ cho ta như vậy.
Kho báu TỪ BI ở ngay trong tâm chúng ta, có một năng lực mầu nhiệm, siêu khoa học; nhưng muốn tìm được kho báu này, chúng ta phải buông bỏ hết “kho báu” thế gian, đó là sắc, thanh, hương,vị, xúc, pháp. Bỏ một đã khó, làm sao bỏ cả sáu ? Cho nên dù chư Phật và Bồ Tát xót thương chỉ dạy, con người vẫn cứ thờ ơ, chỉ thích bám lấy “kho báu” trần gian với bất cứ giá nào! May mắn cho chúng ta, các vị chân tu thời hiện đại đã buông bỏ hết vạn duyên thế tục, với một trái tim TỪ BI đã đến được kho tàng quý giá này, mang về cho đời những viên ngọc quý, rất nhiệm mầu… Sự nhiệm mầu thể hiện qua sự trải nghiệm tâm linh, và trong quá trình hoằng pháp với những mẫu chuyện thật, người thật, đây cũng là nhưng bài pháp viết bằng chuyện kể có khả năng làm thức tỉnh những ai còn chưa tin sâu vào sự nhiệm mầu của kho báu TỪ BI.
A- TỪ BI : PHẢN KHOA HỌC, SIÊU KHOA HỌC, VÀ KHOA HỌC
Căn cứ vào những trải nghiệm tâm linh của những vị chân tu để so sánh với khoa học, ta thấy TỪ BI vừa phản khoa học, vừa siêu khoa học, nhưng cũng là khoa học. Đặc điểm này dễ nhận biết nhất trong lãnh vực y học :
-VỀ ĂN UỐNG :
Về ăn uống, y học Tây phương chú trọng vào hàm lượng dinh dưỡng calori như tinh bột, chất đạm, chất béo, sinh tố… Đông y thì quan tâm về bổ âm, bổ dương, nếu thiếu chất dinh dưỡng thì cơ thể sẽ suy nhược, thiếu trầm trọng sẽ tử vong. Các vị chân tu thì có quan điểm ngược lại: HT. Quảng Khâm, chỉ có 10 cân gạo, ẩn tu trên núi 13 năm, Ngài ăn trái cây, củ rừng, HT. Tuyên Hóa cũng ăn uống như vậy trong ba năm thủ hiếu ở mộ mẹ, đôi khi phải nhịn đói, HT. Hư Vân ẩn tu trên núi hai lẩn(mỗi lẩn 3 năm). Ngài kể “Từ 28, 29, 30 tuổi, suốt ba năm này, tôi ở trong hang núi, chỉ ăn trái thông, rau cỏ…khát thì uống nước suối…tôi bấy giờ một bát cũng không có, vẫn sống vô ngại tự tại, thư thái an nhiên, thể lực ngày một cường tráng, tai mắt sáng tỏ, cất bước nhẹ nhàng, lẹ như bay …” (1)
-VỀ VỆ SINH, AN TOÀN THỰC PHẨM
HT. Quảng Khâm, sau mỗi buổi ăn, Ngài lượm những thức ăn rơi rớt dưới đất mà ăn .HT. Tuyên Hóa (lúc chưa xuất gia, nhưng Ngài đã phát Bồ Đề tâm) đã từng lượm vỏ khoai của cảc bạn vứt xuống đất mà ăn, kể cả khi bạn nhả ra vì ăn nhầm vỏ củ. Ngài kể, khi thủ hiếu ở mộ mẹ, có một vị Tỳ Kheo cho Ngài một thùng bánh bao(chừng21 cái): “Lúc bấy giờ trời nóng oi bức mà tôi thì không để ý gì hết, nên không đem bánh ra ngoài hong gió, hay phơi cho khô, rốt cuộc bên trong, bên ngoài đều nổi mốc, cao dày khoảng một tấc rưỡi(tấc mộc). Bánh bao bị hư mốc meo đến thế, nếu đem bỏ đi thì sao? Đây là vật người ta cúng dường, hơn nũa là do thầy Tỳ Kheo đem tới, trong khi đó, tôi chỉ là một chú Sa Di. Còn nếu không bỏ đi, rất khó ăn vì nó vừa cay nồng vừa hôi thúi…Có người đến thấy tôi ăn bánh bao meo mốc này, liền bảo tôi đừng ăn, nói ăn sẽ bị bịnh chết. Tôi nói: “sanh bịnh à ?Cái gì sanh bịnh?”…Nhưng tôi ăn hết bánh mốc đó cũng không bị bịnh, cũng không có việc gì xảy ra! Lúc đó tôi buông xả cả thân tâm, cho nên mới có thể ăn được “cái không thể ăn”. Tôi tin rằng lúc đó dù có cái gì khó ăn cách mấy đi nữa tôi đều có thể ăn được”(2)
-KHẢ NĂNG NHỊN ĂN, UỐNG
HT. Tuyên Hóa có khả năng nhịn ăn hai, ba tháng mà vẫn có thể xách được vật nặng chừng 14 kg. (Ngài từng nói, nhịn ăn là nhường phần mình cho người khác , vì vật chất sẽ không mất đi đâu cả). Các vị chân tu nhập định một vài tuần là chuyện bình thường, thậm chí cả hàng tháng . Nhập định thì không ăn, uống, khi vào sâu thì hơi thở cũng không còn như HT. Quảng khâm: “Hòa Thượng thường hay nhập định. Có lần Ngài nhập định vài tháng, không ăn, không uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở như đứt tuyệt. Có người gần đấy lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên đã tức tốc cấp báo với HT. Chuyển Trần để lo việc hỏa táng. May thay lúc ấy, có vị cao tăng là Đại Sư Hoằng Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe tin trên bèn cùng HT. Chuyển Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Đại Sư Hoằng Nhất biết Ngài đang nhập định, liền gõ ba tiếng khánh đánh thức Ngài dậy từ trạng thái thiền định. Tin Ngài nhập lan đi khắp nơi, khiến ai ai cũng tán thán” (3) Ta biết rằng không uống nước bốn, năm ngày là chết, không thở vài phút là chết, vậy mà Ngài không thở, không uống hàng tháng trời mà vẫn sống. Thật là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, khoa học không thể nào giải thích được.
- NGỦ ( Nhất tâm bất loạn không cần ngủ)
Khoa học coi trọng giấc ngủ rất đúng vì cơ thể hoạt động mỏi mệt nên cần phải có thời gian ngủ nghỉ. Tại sao cơ thể mỏi mệt ? Vì mất đi năng lượng; năng lượng mất đi do hoạt động cơ bắp thì ít, mà mất do vọng tưởng, tham, sân, si …nhiều hơn vì nó làm cho hệ thống thần kinh ở não bộ hoạt động liên tục như lo sợ, buồn vui, hờn giận, tiếc thương…khiến ta tiều tụy, mỏi mệt hơn là lao động chân tay. Các vị chân tu,với tâm TỪ BI luôn luôn thanh tịnh(không vọng tưởng, không tham, sân, si, không vị kỷ…) nên thần kinh ở não hầu như không hoạt động, không mỏi mệt, do đó ngủ rất ít hoặc không ngủ. HT. Hư Vân không ngủ, nhưng Ngài thọ 120 tuổi, tâm trí siêu việt. HT. Thích Trí Tịnh không ngủ nhưng Ngài vẫn khỏe, khi siêu âm thì nội tạng vẫn tốt. HT.Quảng Khâm nói rằng khi ta đạt đến nhất tâm bất loạn thì ăn ngủ không thành vấn đề. Các vị tu khổ hạnh (thân càng khổ thì tâm càng an lạc) thì ngủ ngồi; thực ra cách ngồi kiết già để vào định, chứ không phải là ngủ như chúng ta.Thật vậy, nếu ngồi mà ngủ thì thân sẽ ngả nghiêng, lưng, cổ không thẳng, khí huyết lưu thông gặp trở ngại sẽ bị bịnh ngay, làm sao các Ngài có thể ngủ ngồi cả trăm năm như HT. Hư Vân, năm, sáu mươi năm như HT. Tuyên Hóa, Quạng Khâm. (HT. Quảng Khâm tuy ở chùa nhưng Ngài không vào chùa ngủ, mà ngồi kiết già thiền định ở ngoài sân) . Có một Phật tử hiếu kỳ hỏi HT. Tuyên Hóa:
- Ban đêm ngủ ngồi có ích chi?
Đáp:- Tối ngủ ngồi là không nằm xuống ngủ, chúng ta không những tiết kiệm được giấc ngủ mà tinh thần càng sáng suốt hơn và hàng phục được tâm dâm dục nữa (tức vào định)(4)
-GIỮ ẤM THÂN NHIỆT
Khả năng chịu đựng của con người có giới hạn nhất định, không thể chịu đựng được nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh. Có người cho rằng Đức Phật Thích Ca tu trên núi Tuyết là huyền thoại, vì làm sao con người lại chịu được cái lạnh của tuyết trong sáu năm. Nhưng, các đệ tử của Ngài hơn 2500 năm sau đã chứng minh điều đó như HT. Hư Vân, Quảng Khâm chỉ có áo vải mà ẩn tu trên núi trong một thời gian khá dài. Mùa đông ở Trung Quốc nhiệt độ âm rất lạnh. HT.Tuyên Hóa kể: “ Ở Đông Bắc vào mùa đông, thường thường là 33, 34 độ dưới 0 độ, khi xuống 38 độ dưới 0 là nhất định rét cóng chết người được. Khi thời tiết như vậy, tôi lại phát nguyện không mặc áo len, chăn bông, chỉ mặc áo vải…Tôi đi chân không trên tuyết, chân rét nhưng không bị tổn thương. Tôi tiết kiệm các y phục để dành hồi hướng cho người không có đồ mặc…Nếu người nào phát nguyện gì tức Phật, Bồ Tát sẽ mãn nguyện cho người ấy”(5). Khoa học không thể nào lý giải được, cũng không thể phản bác được, vì các vị chân tu đã chứng minh được điều mình nói(nói được thì làm được)
Sự so sánh nhỏ ở trên (mới chỉ là một lãnh vực) đã làm nổi bật sự tương phản, nhờ đó mà thấy được tính siêu khoa học. Tại sao gọi siêu khoa học? Vì các vị chân tu không dựa vào kiến thức của khoa học mà vẫn sống tốt hơn; chẳng những tốt hơn mà còn làm được những việc phi thường, tưởng như trong cổ tích ,HT.Hư Vân kể : “Mùa xuân, từ Đình Quan Âm, chúng tôi bắt đầu chở ngọc Phật đi, thuê tám người khiêng, giao hẹn rõ ràng…nhưng những người khiêng thuê nghi trong tượng có giấu tiền, vàng chi đó…họ muốn tăng thù lao lên gấp đôi. Tôi biết không thể cãi lý với họ, chợt thấy ven đường có tảng đá to, nặng gấp ba lần tượng Phật, tôi liền bảo họ:
-Tảng đá này so với tượng Phật, bên nào nặng hơn?
Họ Đáp:- Đá nặng gấp mấy lần!...Tôi bèn đưa hai tay nhấc bổng hòn đá lên khỏi mặt đất. Bọn họ le lưỡi, cảm phục …xá tôi …Họ chẳng còn đòi hỏi gì nữa…(6)
Một người “suy dinh dưỡng” trầm trọng và không ngủ, lại mạnh hơn lực sĩ và thọ đến 120 tuổi, tỉnh táo đến phút cuối cùng. Chắc có người cho là nhờ một sự bí ẩn nào đó. Phật pháp rất quang minh, không có gì là bí mật cả, bất cứ ai làm đúng phương pháp thì đều có kết quả, nghĩa là rất khoa học .Phật pháp có nhiều pháp môn (pháp môn nào cũng TỪ BI); mỗi pháp môn có một cách hành trì riêng, tùy thuộc vào căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người, như Tịnh Độ Tông thì phát Bồ Đề tâm, tín, nguyện, hạnh(niệm Phật), ai tinh tấn, người đó sẽ được vãng sinh, không phân biệt xuất gia hay tại gia (ngày nay, vãng sinh đã trở thành chuyện thường ngày). Với cách tu khổ hạnh (hạnh Đầu Đà), tuy khó nhưng nếu chịu “khổ thông” sẽ được thần thông. HT.Quảng Khâm khi xuất gia, được HT. Chuyển Trần dạy: “ Ăn thức ăn mà người không muốn ăn, mặc cái mà người không muốn mặc, làm cái mà người không muốn làm, về sau con sẽ rõ”. Và về sau, Ngài đã trở thành một vị Thánh, một bậc ĐẠI TỪ BI.
Quả Thuấn, như đã đề cập ở trên, khi xin xuất gia, HT. Tuyên Hóa đã đưa những điều kiện rất cụ thể: “xuất gia là việc cực khổ, cần nhẫn điều mà người ta không nhẫn được, nhường những điều mà người ta không nhường được, ăn cái mà người ta không thể ăn, mặc cái mà người ta không thể mặc, quên mình vì người, bỏ việc tư vì việc công, mới chính là bổn phận của người xuất gia. Nếu chú có thể làm được như vậy thì mới có thể xuất gia được”(7) (có lẽ chú là giang hồ nên HT.mới nói rõ ràng các điều kiện khắc nghiệt như vậy). Chú đã y giáo phụng hành và đã thành công: khai mở được TRÍ HUỆ và có được cái tâm TỪ BI của Bồ Tát.
Làm đúng cách thì đạt kết quả và nhiều người tự làm được thì đó chính là khoa học vậy. (Lời của HT.Tuyên hóa trên, đã tóm tắt phương pháp hành trì hạnh TỪ BI một cách hiệu quả nhất)
B- TỪ BI: PHƯƠNG THUỐC TRỊ BỊNH MẦU NHIỆM
Bịnh có ba loại: thân bịnh, tâm bịnh, nghiệp bịnh. Khó trị nhất là tâm bịnh và nghiệp bịnh. Tại sao con người lại bịnh? Đông y cho là do tà khí từ bên ngài xâm nhập vào cơ thể. Tà khí là gì? Đó là thời tiết, vi trùng, hóa chất độc hại, phóng xạ… Ngoài ra, còn có một loại độc tố nguy hiểm khác mà y học không thể nào nhận biết được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Những vọng tưởng về tà tri, tà kiến của chúng ta, như các tâm sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối ,sân hận,ghen ghét…đều chứa đựng độc tố bên trong, nên khi chúng phát ra sẽ làm cho không gian bị ô nhiễm. Bởi không gian chứa nhiều độc tố, thành thử hấp thụ vào cơ thể, cơ thể sẽ trúng độc…”(8) Bên ngoài tà khí xâm nhập vào; bên trong chính khí suy nên bịnh. Chính khí suy do rối loạn về tâm lý, tình cảm như hờn giận, lo lắng,buồn đau, tiếc thương …( tức lục dục thất tình dậy sóng trong tâm) kéo dài liên tục, bị đè nén,âm thầm chịu đựng. Nguyên nhân bên trong mới là chính yếu. Chính khí suy nên ngũ tạng bị ảnh hưởng,hệ thống miễn nhiễm suy, kháng thể yếu không có khả năng chống lại tà khí…
Chính khí là gì? Đó là chất vô hình, khả năng con người không thể biết được nhưng cảm nhận được, vì cảm nhận nên cách lý giải thường khác nhau. Chỉ có bậc TRÍ HUỆ mới giải thích được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Pháp nghĩa là gì? Quý vị trả lời: “Tôi biết rồi, đó là Pháp của Phật,của Pháp,của Tăng”.Thực ra quý vị chưa hiểu gì nhiều, nếu quý vị thực sự hiểu được ,quý vị đã không đánh mất Pháp của chính mình. Rốt cuộc, Pháp là gì? Pháp là khí chất sinh động của chúng ta. Trên nó thông cả thiên đường,dưới nó thấu cả địa ngục. Đến mức như chư Phật ,Bồ Tát cũng đồng một thể với chúng ta, vì khí chất sinh động ấy của chúng ta quán thôn tất cả. Khí này như hơi thở. Bao trùm và điều động được khí ấy gọi là Pháp. Do vậy,chúng ta dứt khoát cần phải nuôi dưỡng khí chất này. Chúng ta không nên đề thất tán mà phải tu tập nuôi dưỡng khí này. Nên nói:
Tài bồi tâm thượng địa
Hàm dưỡng tánh trung thiên
Nghĩa là: Vun trồng mảnh đất tâm,nuôi dưỡng chân tánh sáng như bầu trời…Nếu quý vị nuôi dưỡng khí chất của mình thì đừng có rời Pháp của mình…”
Qua lời giảng của Hòa thượng, ta thấy Pháp bao trùm và điều động khí(Pháp do tâm tạo ), tức tâm điều khiển khí, điều này cũng phù hợp với các môm phái khác như khí công (dùng ý để dẫn khí vào kinh mạch), và tâm cũng ảnh hưởng đến khí vì nó điều khiển khí. Tâm tán loạn thì khí cũng tán loạn nên phải bồi dưỡng mảnh đất tâm . Khi giảng phần này Hòa thượng liên hệ thực tế, Ngài hướng về Đạo tràng mà nói: “Khi tôi đến nhà bếp và trai đường,nghe quý vị nói chuyện như cái chợ, sau đó tôi thấy phòng ngủ cũng như cái chợ. Người mà không biết hạn chế lời nói của mình thì khó có khả năng tu tập. Nếu quý vị không hàm dưỡng tánh khí của mình thì quý vị sẽ không có Pháp”(9) . Điều này có nghĩa là nếu ta bàn chuyện thị phi như ngoài chợ thì Pháp khí sẽ bị đánh mất…Như vậy, Pháp khí phải được nuôi dưỡng bởi chân tâm, tức tâm Phật hay tâm TỪ BI. Do đó , muốn lục dục, thất tình không dậy sóng để bảo vệ chính khí, tránh tà khí xâm nhập, ta phải có tâm TỪ BI . Đây cũng là lý do tại sao các vị chân tu chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt, cũng như không quan tâm đến vệ sinh, an toàn thực phẩm mà vẫn khỏa mạnh.
Tâm TỪ BI giữ được chính khí nên diệt được tà khí giúp con người được khỏe mạnh. Nhưng trong thời Mạt Pháp này, nhất là sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật tạo ra quá nhiều tiện nghi vật chất làm cho dục vọng dâng cao, tâm tán loạn (cơ giới sinh cơ tâm), con người vẫn sống “khỏe”, và thực tế là y học vẫn trị được bịnh,vậy có mâu thuẫn với Phật Pháp ?
Không phải tâm tán loạn là sinh ra bịnh ngay tức khắc, mà phải trải qua một thời gian dài mới thành tâm bịnh,và còn tùy thuộc vào phước đức ở tiền kiếp nên mới có câu
: “ phước chủ may thầy”, mới có người ác vẫn sống thọ . Không ai có thể phủ nhận sự thành công nhất định của y học, nhưng y học chỉ trị bịnh mà không trị tâm, tức trị ngọn chứ không trị gốc nên bịnh nhân chỉ khá trong một thời gian hoặc khá bịnh này lại sinh ra bịnh khác (vì cái gốc tâm bịnh vẫn còn), giống như ta chặt nhánh cây này thì cây sinh ra nhánh khác. Vì sao? Vì gốc rễ vẫn còn. Nếu như sự tiến bộ của y học chữa trị bịnh của con người như Thần Thánh thì bệnh nhân phải càng ngày càng giảm.Trái lại, khoa học và y học càng tiến bộ thì bệnh viện ngày càng nhiều, diệt được bịnh này thì bịnh khác sinh ra... ( cái vòng lẩn quẩn)
Tâm bịnh là do con người tạo ra nên có thể điều trị được, nhưng nghiệp bịnh thì rất khó, thuốc men không có tác dụng. Nghiệp bịnh là quả báo mà mình phải trả, phải gánh chịu, do trong tiền kiếp mình đã hại chúng sinh, nhất là sát sanh. Và bây giờ họ tìm ta để đòi nợ. Họ nhập vào bộ phận nào đó của cơ thể thì bộ phận đó sẽ bị đau, có khi nhập rồi xuất, xuất rồi nhập, liên tục (người ta thường gọi là bịnh giả vờ), nếu vào não bộ thì cho là điên, khùng, (dân gian thì cho là ma nhập). Nợ của người ở thế gian còn có thể trốn tránh được, còn nợ với oan gia trái chủ (vô hình) thì không thể. Phật Pháp giúp ta cách hóa giải nghiệp chướng này, đó là sám hối, làm việc thiện, phóng sinh, giới sát, niệm Phật, trì chú Vãng Sanh, (ăn chay càng tốt) rồi hồi hướng cho oan gia trái chủ (quý vị nên tìm đọc VĂN PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI của HT. Tịnh Không để hiểu rõ và hành trì). Nếu thành tâm sẽ có kết quả tốt (tin thì thật, thành thì linh). Thực ra, ma quỷ cũng là chúng sinh, đều có Phật tánh, nghĩa là điều có tâm TỪ BI, nhưng vì sân hận , oán thù nên chủng tử ác hiện hành trong tâm thức, còn chủng tử thiện thì chìm sâu, nên họ ác với ta. Nếu ta chân thành sám hối và hồi hướng công đức cho họ, làm cho tâm họ được nhẹ nhàng( nhẹ là dương; dương là thiện),Chủng tử thiện có cơ hội huân trưởng và tăng trưởng, họ sẽ có thiện cảm với ta, không còn oán thù (thù trở thành bạn).
Chúng ta sinh ra ở cõi Ta Bà này là do nghiệp, trong đó có nghiệp sát hại chúng sanh nên ai cũng có oan gia trái chủ. Nhưng tại sao chúng lại đến tìm người này mà không tìm người kia? Vì chỉ khi nào phước diệt, họa mới sinh, chúng phải chờ đợi khi có cơ hội, tức là lúc phước ta suy, diệt. Người có phước đức sâu dày (từ kiếp trước hoặc tạo ra ở kiếp này) thì không có một thế lực nào có thể hại được. Do đó, chúng ta cần phải tu hành như không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật để có công đức và phước đức (tu là phước lớn nhất). Vả lại, tu hành chính là “bồi dưỡng mảnh đất tâm, hàm dưỡng tánh trung thiên”, bảo vệ chính khí, diệt tà khí. (ma quỷ cũng là tà khí)
Có một bà lão họ Trương bị bịnh tê liệt tay chân đã ba năm tìm đến HT. Tuyên Hóa xin được trị bịnh. Hòa Thượng nói: “Tôi không hiểu y học! Nếu bà muốn khỏi bịnh, chỉ có thể dựa vào lòng thành, đồng thời ăn chay và niệm Phật, tất sẽ có cảm ứng” Bà nghe lời Hòa Thượng khai thị, qua 100 ngày sau , bà được lành bịnh. Sau đó cả nhà bà đều quy y, dốc lòng làm việc thiện.(10)
Ông Đái Quốc Hiền bị bịnh phổi bất trị. Quá tuyệt vọng, ông cầu Hòa Thượng cứu mạng. Ngài dạy ông chí thành niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, phát nguyện không sát sinh,ăn chay. Ông hoan hỷ tín thọ… Từ đó, ông quy y Tam Bảo, trì chú Đại Bi và không ngừng xưng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát nên ông được lành bịnh như ý nguyện.(10b)
Phương thuốc trị bịnh ở trên là không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, hồi hướng công đức… gọi tắt là tâm TỪ BI. Các vị chân tu đã “ thử nghiệm” và đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Thuốc đã có sẵn trong tâm, không tốn tiền mua, không tốn công đi tìm, nhưng người sử dụng phải có lòng tin, lòng thành thì mới linh ứng
C-TỪ BI: HÓA GIẢI ĐƯỢC TAI HỌA:
Tai họa của con người gây ra là do nghiệp ác, nghiệp ác dễ làm hơn là thiện nên “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Nghiêp có cộng nghiệp và biệt nghiệp.
Nghiệp cá nhân, chủ nợ đóng rất nhiều vai: có thể là người nhà, lối xóm, bạn bè, người yêu, quen có , lạ có, có khi là thú vật, ma quỷ... Ta luôn ở trong thế “tứ bề thọ địch”, không biết đâu mà tránh ( “họa phúc vô môn”). Chủ nợ đến để đòi mạng, đòi nợ, gây thương tích, gây khó khăn, nói xấu… nhẹ nhất là ác cảm . Khi nhân gặp duyên thì quả báo xảy ra, có khi không cần một lý do chính đáng nào cả (như một sự va quẹt nhẹ, một cái nhìn, một câu nói đùa cũng xảy ra án mạng). Người ta thường nói sự cố xảy ra như vậy thật là phi lý, nhưng Phật Pháp tìm ra cái lý trong sự phi lý đó, đó là luật nhân quả. Chẳng những giải thích được mà còn có cách hóa giải rất mầu nhiệm.
HT.Huyền Diệu kể một câu chuyện vui (tôi không ghi chép nên chỉ nhớ đại khái): có một bà đến tìm thầy để nhờ ếm bùa hại bọn thanh niên lối xóm, vì chúng thường gây phiền phức cho bà. Thầy nói vui: “Bà muốn tôi giết chúng phải không?”. Bà đáp: “Phải!” (bà không rành về Phật Pháp) . Thầy ân cần giải thích về luật nhân quả và chỉ cách hóa giải hận thù: lạy sám hối. Thầy bảo bà đọc tên từng người rồi lạy sám hối họ trong ba tháng (vì bà có lỗi với họ ở tiền kiếp). Năm sau, thầy về nước, bà tìm thầy cảm ơn và nói: “Thầy nói lạy ba tháng, nhưng mới có tháng rưỡi mà thành công, giờ chúng thương tôi lắm”11). Tâm chúng sinh giống như cái máy thu sóng và phát sóng (tất cả các cảnh giới đều có trong tâm ), nên lời sám hối sẽ đến đúng đối tượng, sự sân hận không còn nữa. Trước đây mỗi lần đụng chuyện với chúng, bà rất giận, vô tình tạo duyên sân hận làm cho chủng tử sân hận trong tâm của chúng tăng trưởng, và huân trưởng nhanh chóng nên oán thù ngày thêm chồng chất (bà muốn giết chúng). Nếu như không hóa giải bằng cách lạy sám hối, thì thảm họa sẽ đến cho cả hai.
Lạy sám hối khi biết được đối tượng rất mầu nhiệm, nhưng chỉ là nhất thời, chứ không phải là phương pháp phòng ngừa. Phòng ngừa mới thực sự cần thiết, vì chúng ta đâu chỉ có một oan gia, trái chủ mà vô số (từ trong nhà ra ngoài phố). Chẳng những oan gia, trái chủ hữu hình mà còn vô hình (ma, quỷ), chúng chờ đợi cơ hội thích hợp, tác động váo tâm thức ta , khiến ta mê mờ, không còn tỉnh táo rồi gây ra tai nạn, hoặc nhập vào một người nào đó để hại ta (như nhập vào người say rượu, say thuốc, nên mới gọi là ma men, ma túy )
Phương pháp phòng ngừa là tu hành (giới sát, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật…) và ngày nào cũng hồi hướng công đức cho oan gia, trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay. Nhờ vậy mà oán thù được giải, cuộc sống được an vui . Như đã nói, tu hành cũng chính là vun bồi phước đức, phước đức lớn thì họa không thể hại được.
Họa đo cộng nghiệp (nhiều người cùng tạo nghiệp ác nên cùng nhận quả báo). HT. Hư Vân thuật lại một trận động đất kinh hoàng ở Đại Lý như sau : “Năm này, tôi đang giảng kinh ở Long Hoa Sơn, thì 4 huyện ở phủ Đại Lý phát sinh địa chấn kinh hồn, tại Đại lý là nặng nhất: nhà cửa, thành quách đều nhất loạt sụp đổ không còn gì. Chỉ có chùa viện, bảo tháp là không đổ…Trong cơn địa chấn đất rung chuyển trầm trọng, còn phát sinh ra lửa cháy ngùn ngụt tràn lan. Người ta tranh nhau chạy tránh nạn, thì dưới chân đất bỗng nứt ra, làm họ bị lọt xuống mắc kẹt trong đó, họ cố hết sức trèo lên, nhưng vừa ló được cái đầu thì đất liền khép lại, cắt đầu đứt lìa thân thể họ, nằm mắc kẹt trên đất. Cảnh tượng hãi hùng nhìn giống như người đang sống mà bị hãm trong địa ngục lửa thiêu, thảm đến mắt chẳng dám nhìn.
Mấy ngàn hộ dân trong thành tử nạn gần hết, sống sót rất ít.Trong đó có hai tiệm vàng: tiệm Vạn Xương của họ Triệu và tiệm Trạm Nhiên của họ Dương. Khi lửa cháy đến nhà hai gia đình này thì tự tắt.Chỗ họ ở cũng không bị địa chấn. Nhân khẩu mỗi nhà có mấy mươi người, tất cả đều bình an vô sự . Nguyên do là hai họ này, đời đời ăn chay trường và hay làm phước bố thí nên mới chiêu cảm được quả lành hi hữu như vậy. Ai biết được cũng đều xúc động.”(12). Trường chay và làm việc thiện mới chỉ là một phần của tâm TỪ BI mà vẫn có được sự nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.
D- TỪ BI HÓA GIẢI ĐƯỢC SỐ MẠNG
Số mạng chính là luật nhân quả (trong dân gian và thi ca thường gọi là số trời). Đại sư Ấn Quang khuyên những ai tin vào số mạng nên đọc “Liễu phàm tứ huấn”. Đây là tác phẩm rất hay, nói về việc cải số, con người hoàn toàn làm được. Xin tóm lược vài nét chính: Liễu Phàm, họ Viên tên Huỳnh, tự Khôn Nghị, người Giang Nam, đời Minh, sinh năm 1535 mất 1609. Ông gặp Khổng tiên sinh, một nhà tướng số rất nổi tiếng đoán tương lai vận mệnh như : thi ở huyện đậu hạng 14, thi ở phủ hạng71,thi ở Đề Đốc hạng 9, đậu tú tài, làm quan 3 năm rưỡi rồi xin về hưu, mất giờ sửu ngày 14 tháng 8, thọ 53 tuổi, không có con.
Trải qua các kỳ thi ấy, đúng từng chi tiết.Từ đó, ông thối chí (vì biết trước số phận của mình chắc chắn sẽ như vậy). Một hôm, ông gặp Thiền sư Vân Cốc, Ngài giảng dạy cho ông về cách cải số rất hay như: “Mạng do ta tạo (tức luật nhân quả), phước do ta tìm (tức tu hành, làm nhiều việc thiện). Số mạng chỉ chi phối cho những người suốt đời xuôi chiều theo tánh mình, không biết thay đổi mà thôi; còn đối với những người có sự chuyển biến mạnh mẽ thì số mạng không thể chi phối…”Ông hoàn toàn tin phục những lời dạy của Thiền sư. Ông sám hối, phát nguyện làm việc thiện… tinh tấn từng ngày ( mỗi ngày đều ghi sổ), được sự trợ giúp đắc lực của vợ. Sau một thời gian dài, kết quả tốt đẹp mở ra, khác hẳn với lời tiên đoán của Khổng tiên sinh. Ông có một người con trai, đậu tiến sĩ, làm quan lâu dài, thọ 74 tuổi.!(13)
HT. Tịnh Không nói rằng theo tướng số thì Ngài chỉ thọ 45 tuổi(vì cằm ngắn), nhưng Ngài xuất gia thì tuổi thọ tăng lên gần gấp đôi. Năm 45 tuổi chỉ xảy ra một trận đau nặng mà thôi. Ngài còn nói thêm là thầy Lý Bỉnh Nam cũng vậy.
Ông Phan Tế Thời là người rất giàu có ở huyện Song Thành, hai vợ chồng đã quá 40 tuổi vẫn không có con, nên rất lấy làm hối tiếc. Họ rất ngưỡng mộ H T. Tuyên Hóa và thỉnh Ngài chỉ dạy cho việc cầu con, Hòa thượng bảo: “Ông nên làm nhiều việc thiện, sao ông không đem phân nửa tài sản của ông bố thí cho tất cả chúng sinh để tích lũy công đức. Nếu làm được như vậy, tin rằng ông sẽ được mãn nguyện”. Nghe theo lời chỉ bảo, ông bèn phát tâm bố thí, sửa chùa, tạc tượng, cúng dường Tam Bảo, trợ giúp hội từ thiện. Qua năm sau, vợ ông sinh được một bé trai, đặt tên là Thí Đức. Bé này thông minh lanh lợi. Sau khi có con, ông càng tin sâu vào Phật pháp, hằng ngày tụng kinh, niệm Phật, làm việc thiện…(14)
Người xưa nói : “Đức năng thắng số”, “ ở hiền gặp lành”quả thật không sai. Trước đây, chúng tôi có hỏi GS. Giản Chi về thuyết số mạng, thầy nói rằng câu “tam phần nhân, thất phần thiên”( người 3, trời 7)nên sửa là “tứ phần nhân” mới đúng. Lời dạy của thầy rất hay, đề cao sự nổ lực, phấn đấu của con người. Nay, tìm hiểu về Phật pháp, ta lại thấy khả năng của con người chẳng những là “tam, tứ, ngũ…phần”, mà có thể thay đổi tận gốc rễ về “số trời”. Tại sao? Vì khi ta phát tâm TỪ BI,làm việc phước đức, tức là mình đã tạo DUYÊN cho chủng tử TỪ BI(vốn có) trong tạng thức tăng trưởng, huân trưởng, hiện hành trong tâm. Tâm được điều hành bởi chủng tử hiện hành đó. Pháp do tâm tạo, tức cảnh giới bên ngoài đều do tâm cả. Tâm động bên trong (tham, sân, si) thì bên ngoài sẽ động (trong ngoài hợp nhất), cuộc sống sẽ gặp nhiều đau khổ, chướng ngại; nếu tâm thanh tịnh(TỪ BI) thì sẽ có cảnh giới bên ngoài bình yên, may mắn , chiêu cảm được những ước mơ chân chính (tùy thuộc vào công phu tu tập).
Đây là câu chuyện “Ăn mày học cách tạo mạng”: Có một gã ăn mày tên là Kỷ Đại Phúc thường lui tới chòi rơm lễ bái HT. Tuyên Hóa. Gã thỉnh vấn Hòa thượng:“ Tại sao đời này con lại bần cùng như vậy”. Ngài giải thích đạo lý nhân quả ba đời, và dạy: “…Do nhân gì mà đời này chịu cảnh hèn? Là bởi đời trước keo kiệt, không muốn cứu tế người nghèo.” Kỷ Đại Phúc nói: “Con thường tự nghĩ, con đã không làm chuyện gì thiếu lương tâm, mà giờ đây chịu cảnh cùng khốn…,vậy chắc là do đời trước con đã keo kiệt, bủn xỉn, không biết bố thí. Ngài có biện pháp nào cứu vãn cho đời sau này của con không?”. Hòa thượng đáp: “ Quân tử học cách tạo mạng, chỉ cần ông bắt đầu từ đây, nổ lực làm việc thiện, quảng tích âm đức, tức ông có thể tự tạo cho mình một vận mạng mới, vậy có phúc nào mà cầu không được?”...Kỷ Đại Phúc nghe xong rất đỗi vui mừng, phát nguyện…,thỉnh cầu quy y Tam Bảo.
Từ đó về sau, lúc đi ăn xin, miệng ông niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” không gián đoạn. Khi xin được tiền, gạo ông đem tế bần, giúp người . Qua nhiều năm tháng tinh tấn, vào mùa đông năm Dân Quốc thứ 29(1940), ông biết trước ngày giờ vãng sinh, an tường qua đời trong tiếng niệm Phật.(15) Như vậy, ông đã thay đổi tận gốc rễ số mạng (cho dù kiếp sau có được làm vua hay thành tiên cũng không thể sánh với cõi Cực Lạc được)
E- TỪ BI: HÀNG PHỤC ĐƯỢC THÚ DỮ
Trước hết, xin được phép ghi lại lời của Bảo Đăng, tác giả “ VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM”: “Người đọc cần phải hội đủ lòng tin và dùng tâm trân trọng, chớ nên nói rằng thời buổi khoa học này thì làm gì có các sự việc như vậy, hoặc là chừng nào tôi thấy thì tôi mới tin v.v…Bởi vì đây không phải là cảnh giới của mình, không phải là công đức tu hành của mình (tức là mình tu chưa đạt đến mức như vậy)…Có nhiều người (tại gia lẫn xuất gia) mỗi khi nghe nói ở phương nào đó có một Thượng tọa hay Hòa thượng tu cao, đạt vài ba sự phi thường(mà họ không bao giờ có được) thì họ hoặc bĩu môi,hoặc là cười nhạo…(họ chẳng tin có người đắc đạo mặc dù họ là người có đạo, và đang tu theo đạo)”
HT Thích Thiền Tâm ẩn tu ở Phú An, Đại Ninh, Lâm Đồng, một vùng có rất nhiều rắn độc. Một hôm, sau khi làm vườn xong, Ngài trở vào thì thấy một con rắn quấn đuôi trên cửa, há miệng, le lưỡi, thở khò khè. Ban đầu,Ngài cũng có ý sợ, chần chờ không dám bước qua, nhưng lại nghĩ chẳng lẽ đứng ở ngoài sân hoài, dùng cây đuổi thì gây oán thù. Ngài niệm Phật và nghĩ đến phép quán TỪ BI mà bước vào. Con rắn đánh đu bên này, bên kia chạm vào mặt, vào cổ mà không hề cắn. Có hôm, khi Ngài vừa ngủ dậy, đặt chân xuống thì trúng mình con rắn, nhưng nó vẫn không phản ứng… Sau đó, Ngài biết là rắn vào nghe kinh… Ngài đã quy y cho chúng. Đây là loại rắn thần, có khả năng biến hình và nghe được tiếng người . Và, rắn đã hộ pháp cho Ngài…Hòa Thượng viên tịch năm 1992. Ngày khai mộ (21- 12-1992) có đôi kim xà đến viếng mộ, chúng nằm yên trước mộ một lát, rồi cất đầu lên ba lần, nhìn trưởng tử Thanh Nguyệt, sau đó bò vào đám tranh, mất dạng…(Câu chuyện còn dài và có nhiều chi tiết khá thú vị , có ghi hình đôi kim xà).(16)
Và, đây là câu chuyện “Mãnh hổ quy y” với HT Quảng Khâm: “Một hôm như thường lệ, Sư ngồi thiền trong động, bỗng nghe mùi tanh nồng nặc theo gió bay vào, Sư lấy làm lạ. Trong bối cảnh mơ hồ, dường như có vật gì to lớn lần bước vào trong động. Sư mở mắt nhìn kỹ, không ngờ đó là con mãnh hổ…Sư thốt lên: “A Di Đà Phật”, mãnh hổ …kinh hãi, vụt tháo chạy. Sau phút kinh hồn, nó lấy lại tinh thần… từng bước, từng bước tiến vào hang động…Sư nói: “ A Di Đà Phật! Lão hổ đừng sân hận! Oan oan tương báo không bao giờ dứt, ngươi ở đây thì ta sẽ ra ngoài, còn ngươi nhường nơi này cho ta tu hành thì sau khi ta thành đạo, sẽ độ cho ngươi…”. Mãnh hổ nghe lời Sư nói, không biết có hiểu hay không, nhưng nó đứng lại… Thật bất ngờ, mãnh hổ gật đầu như tỏ dấu thần phục…Sau đó nó dắt vợ con đến trước Sư mà đùa giỡn, trình diễn các kiểu múa vờn cho Sư xem, nhiều lần gật đầu như cầu xin việc gì. Sư liền quy y cho chúng”.(17)
HT. Hư Vân kể : “Ngày 17 tháng 11 âm lịch, tôi làm lễ kết giới ở chánh điện. Vào đêm thuyết giới Bồ Tát, có con cọp đến quy y, đại chúng đều kinh hoảng. Tôi thuyết giới cho nó xong, nó hiền lành ra đi”. Câu chuyện này được đệ tử Ngài kể tiếp: “ Mùa đông,năm 1934,Sư khai đạo tràng, các vị quan lớn quý tộc đều dẫn quân lính theo. Đêm ấy, người cháu của Giang Khổng Vân đang đứng trên Tàng Kinh Các bỗng thấy ngoài cổng có hai luồng điện xanh lè, bèn đến gần xem, mới hay là con cọp, ông kêu ầm lên, binh lính giương súng định bắn, Sư vội đến nơi , cọp liền nằm mọp dưới thềm.
Sư thuyết Tam Quy cho nó nghe, dặn hãy vào ẩn trong núi sâu, đừng làm hại người. Cọp khấn đầu ba lần,rồi bước đi, song vẫn ngoái lại với vẻ rất lưu luyến. Từ đó, mỗi năm nó về thăm Sư một hai lần…”-lược ghi-(18)
Răng nanh và móng vuốt của hổ, sói không đáng ngại, chỉ ngại nhất là cái tâm tham (tham ăn) và sân si (hiếu chiến, dã man). Các vị chân tu đã hàng phục được cái tâm tham, sân, si thì chúng rất hiền lành như con hổ trong câu chuyện trên.
Nhờ đâu mà các bậc chân tu hàng phục được? HT. Tuyên Hóa đã giúp chúng ta lời giải đáp qua “Vượt bảy thử thách”(bảy của ải ), khi Ngài thủ hiếu ở mộ phần của mẹ. Chúng tôi chọn ải số 2, đó là ải muỗi. Lời kể có chút khôi hài nhưng lại chứa một bài pháp thâm thúy: “ Ở Đông Bắc vào tháng ba không có muỗi, nhưng không biết sao vào tối hôm thứ hai thủ hiếu, có rất nhiều muỗi bay tới kêu vo ve rất lớn…Tôi vốn có thể đập chúng chết hết, nhưng tôi đang để tang mẹ, làm vậy sẽ có lỗi với mẹ tôi sao ?Được rồi ! Tôi bèn phát tâm bố thí, tôi nói: “ Xin chúng bay cứ việc tha hồ hút máu, tao đãi khách đó!Tôi vừa cởi áo ra, chúng liền bay tới đậu tấp nập trên thân tôi, nhưng chưa chích tôi mũi nào thì tức khắc bay đi. Các vị thấy có kỳ quái không? Từ đó trở đi, tôi ở mộ phần thủ hiếu, không khi nào muỗi đốt. Nhưng khách tới thăm tôi đều bị muỗi chích đốt tứ tung. Họ nói: “ ái da, đâu mà nhiều muỗi thế, sao có nhiều vị bác sĩ bác quá vậy!”…
Tôi nói ra đây, phải chăng giống như chuyện thần thoại? Các vị nghe rồi có thấy buồn cười không? Thật ra, điều này chẳng vui chút nào! Vì ngay lúc đó, nếu tôi không có tâm bố thí…thì chúng dễ gì bỏ qua cho tôi. Lúc đó tôi nghĩ: “Được, ta bố thí máu này cho chúng bay! Chúng bay hãy hút hết máu ta đi, dù có chết nơi đây ta cũng không báo thù chúng bay đâu. Ta không những không báo thù mà nếu thành Phật, ta vẫn sẽ hóa độ cho loài muỗi mòng và làm bạn với chúng bay. Một khi nghĩ vậy rồi tức bọn muỗi làm bạn với tôi, nên dù có đậu trên thân tôi, chúng cũng không nhẫn tâm hút máu của tôi. Các vị xem có phải là do có lực cảm ứng hay không? Nói tóm lại,một khi tôi thật sự phát tâm bố thí là chúng nó liền tha cho tôi… Do chuyện này, nên về sau tôi có cái bút hiệu là”Tỳ Kheo Muỗi”, vì tôi ký tên “Độ Luân” và “ Tuyên Hóa”này có một số người thấy rất đau đầu..” (19)
Hòa thượng đã phát Bồ Đề Tâm, chẳng những đem thân mình ra bố thí, mà còn nguyện độ cho chúng… Đó chính là tâm TỪ BI của BồTát (Con người vì sinh mệnh của mình mà giết hại dã man súc vật để nuôi thân; Bồ Tát vì mạng sống của chúng sinh mà hy sinh thân mạng của mình). Nhờ vậy mà có lực cảm ứng. . Cảm ứng là gì? Có CẢM nên mới có ỨNG (ỨNG là đáp lại, thuận theo ). Nếu mình TỪ BI với chúng, chúng cũng đem lòng TỪ BI đáp lại mình (“ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”), vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức tâm TỪ BI.TỪ BI có sự mầu nhiệm, siêu việt hơn cả thần thông, vì thần thông chỉ làm hạn chế, hoặc vô hiệu hóa khả năng đối phương chứ không thể biến thù thành bạn được. Nhưng có được cái tâm TỪ BI của các vị chân tu như HT. Thiền Tâm, Hư Vân, Quảng Khâm,Tuyên Hóa để cảm hóa chúng sinh là rất khó vì các Ngài là Bồ Tát, còn ta thì chỉ là Phật tử , còn nhiều tham, sân, si (nên luôn bị muỗi chích). Tuy nhiên, nếu tinh tấn hành trì hạnh TỪ BI, một ngày nào đó, mình cũng có chút lực cảm ứng, nếu không thì Ngài đâu có giảng rõ cho ta như vậy.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








